|
GIÁO SƯ, VIỆN SỸ TRẦN ĐẠI NGHĨA
Ngày
20/10/1946, sau 11 năm du học trời Tây, người trí thức
trẻ yêu nước Phạm Quang Lễ đã theo Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ Pháp trở về nước tham gia kháng chiến. Vào dịp kỷ
niệm 60 năm toàn quốc kháng chiến cuối năm 2006, khi đến
thăm vợ ông, bà Nguyễn Thị Khánh, chúng tôi mới được
biết ngoài cái tên Trần Đại Nghĩa do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặt, ông còn có biệt danh “Ông Phật làm súng” do
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng. Ông là người đại diện
xuất sắc cho đội ngũ khoa học nước nhà và mãi mãi là
người con trung hiếu của miến đất Vĩnh Long - Nam Bộ anh
hùng
Giáo sư Trần Đại Nghĩa
tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại
Xuân Hiệp, Vang Bình, Vĩnh Long, Nam Bộ, trong một gia
đình nhà giáo nghèo.
Mồ
côi cha từ năm 10 tuổi, Phạm Quang Lễ do tiếp thụ được
truyền thống yêu nước thương người của gia đình và có
trí óc thông minh, đã được mẹ và chị hết lòng nuôi dưỡng.
Năm 1926, Lễ học xong bậc tiểu học, tốt nghiệp hạng ưu
và sau đó đỗ tiếp vào Trường trung học Mỹ Tho. Vì đỗ
hạng ưu nên Lễ được cấp học bổng. Suốt bốn năm học ở bậc
trung học đệ nhất cấp, Lễ là học sinh xuất sắc, thường
đạt điểm cao và đứng đầu về các môn khoa học tự nhiên
như toán, vật lý, hoá học. Năm 1930, Lễ tốt nghiệp trung
học phổ thông và tiếp tục học Trung học đệ nhị cấp
Pê-trus Ký, một trường học nổi tiếng của Sài Gòn. Trường
quy định chặt chẽ giờ học, giờ nghỉ, giờ ăn, giờ ngủ
nhưng đối với những học sinh ham học như Lễ, giờ học
trong nội quy còn quá ít. Anh và các bạn đã nghĩ ra cách
học. Khi có lệnh tắt đèn đi ngủ, họ chia nhau người vào
nhà tắm, người vào nhà cầu, bật đèn học tiếp. Thoạt đầu,
các giám thị rất ngạc nhiên: nhà cầu đóng cửa hàng giờ
mà không có ai ra, nhà tắm đóng cửa mà không có tiếng
xối nước. Sau đó nhiều người phát hiện được mưu mẹo của
Lễ và các bạn anh nhưng rồi nể họ là những học sinh ham
học nên phần đông giám thị bỏ qua. Cũng trong thời kỳ Lễ
học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, có nhiều hoạt động
chống thực dân Pháp nổ ra như hoạt động của cụ Phan Bội
Châu, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, các cuộc bãi công,
bãi thị do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, khởi nghĩa
Yên Bái. Các sự kiện đó khơi sâu lòng yêu nước trong
giới học sinh. Tuy nhiên, hầu hết đều bị thực dân đàn áp
dã man và bị thất bại. Một trong những nguyên nhân thất
bại là vấn đề vũ khí: lực lượng cách mạng không có vũ
khí trong khi quân đội thuộc địa được “trang bị đến tận
răng”. Muốn thắng kẻ thù, ngoài những người lo về chính
trị, phải có người lo về quân sự, về khoa học, về vũ khí.
Cho nên, Lễ đã sớm xác định hướng đi cho mình là học
giỏi, nhất là các môn khoa học tự nhiên để sau này
nghiên cứu về vũ khí giúp cho công cuộc giải phóng dân
tộc.
Năm 1933, chàng thanh niên 20 tuổi, Phạm Quang Lễ
đã đỗ xuất sắc hai bằng tú tài: Tú tài tây và Tú tài bản
xứ.
Tháng
9 năm 1935, nhận được học bổng du học bên Pháp của Hội
ái hữu trường Xatxơlu Lôba, Phạm Quang Lễ có cơ hội để
thực hiện hoài bão của mình. Suốt 11 năm học tập tại
Pháp, anh miệt mài nghiên cứu tại Trường đại học quốc
gia Cầu Cống, Trường đại học Xoocbon, Viện Khí động học,
Học viện Thống kê, Trường cao đẳng kỹ thuật Điện. Sau
giờ học, anh thường đến các thư viện để tra cứu sách
liên quan đến chế tạo vũ khí. Anh cũng tìm đến những
hiệu sách cũ để tìm những quyển sách về đề tài này.
Ngoài ra, Lễ còn tham dự các buổi thực nghiệm, đi tham
quan các nhà máy, các viện nghiên cứu... nhất là các
viện bảo tàng vũ khí.
Trong
lĩnh vực vũ khí quân sự, Đức là nước đạt nhiều thành tựu.
Để đọc thẳng sách về vũ khí bằng tiếng Đức, Lễ đã tự học
thứ tiếng này. Trong ba ngày, anh học hết những nguyên
tắc cơ bản của văn phạm và bắt đầu đọc sách. Nhưng như
vậy thì rất chậm vì anh phải tra từ điển quá nhiều. “Tại
sao trước hết ta lại không học các từ? Có thể như vậy sẽ
nhanh hơn”- Lễ tự nhủ. Trong hai ngày, anh học thử hai
mươi trang từ điển, gồm gần sáu trăm chữ và anh nhớ được
hai trăm. Với cách học này, sau một tháng anh học xong
và nhớ được khoảng 4000 từ đủ để đọc sách thẳng từ tiếng
Đức. Ngoài nghiên cứu về sản xuất vũ khí, Lễ còn tìm
hiểu thêm môn khoa học quản lý. Anh cũng nhận thấy phải
giữ bí mật cho những công việc của anh. Vì thế, anh đã
tìm đọc những sách nói về công tác phản gián. Anh cần
biết các điệp viên thường làm những gì khi điều tra đối
tượng của họ, để anh giữ mình... Anh làm việc kín đáo
đến mức: công việc anh làm trong mười một năm vẫn không
ai hay, trừ một vài người bạn.
Sau
khi tốt nghiệp các trường đại học (trong khoảng thời
gian 1936-1941), Phạm Quang Lễ đã lần lượt làm việc tại
ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Trong thời gian này,
ông đã thu thập thêm kiến thức về pháo, súng máy và bom
mìn đồng thời quan sát các ụ súng của quân đội Pháp
chuẩn bị để ứng chiến với phát xít Đức.
Tháng
9 năm 1946, ông cùng với một số trí thức khác theo Bác
Hồ về nước để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm của dân tộc ta. Khi còn lưu tại Pháp, Bác Hồ đã hỏi
ông hai câu:
Câu
thứ nhất: "ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu được không?"
– Ông thưa: "Chịu nổi".
Câu
thứ hai: "Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không
có, máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?" -
Ông nói: "Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị mười một năm rồi và
tôi tin là làm được."
Ngày
5 tháng 12 năm 1946, trước Ngày Toàn quốc kháng chiến,
tại Bắc Bộ Phủ, ông được Bác Hồ giao cho một trọng trách.
Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi. Hôm nay, Bác
quyết định giao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân
giới. Chú sẽ chăm lo vũ khí cho quân đội. Đây là việc
đại nghĩa. Vì thế, từ nay Bác đổi tên cho chú là Trần
Đại Nghĩa..."
Trong
9 năm kháng chiến chống Pháp, Trần Đại Nghĩa với tư cách
là một lãnh đạo và một nhà khoa học, đã cùng với các
đồng chí của mình và hàng ngàn công nhân kỹ thuật trong
cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình: sản xuất
vũ khí cho quân đội Việt Nam. Thành công về quân giới
của chúng ta trong hai cuộc kháng chiến chủ yếu là do
biết tập trung vào vũ khí phục vụ chiến tranh nhân dân.
Những công trình khoa học kỹ thuật chế tạo vũ khí như
Bazôka, súng đại bác không giật (SKZ), ... thực sự là
những kỳ tích của Trần Đại Nghĩa và các cộng sự của ông.
Các công trình này đã đóng góp vào việc giải quyết lý
thuyết và thực nghiệm các vấn đề về cơ khí, hoả thuật và
thuốc phóng để chế tạo thành công súng Bazôka bắn đạn
lõm, công cụ chủ yếu chống chiến xa lúc bấy giờ, với sức
xuyên thép 150 mm, súng có thể vác vai cơ động, cự ly
bắn 50-150 m. Loại vũ khí này mang tính sáng tạo cao,
phù hợp với điều kiện vật chất và kỹ thuật của Việt Nam
lúc bấy giờ, góp phần quan trọng vào việc tăng cường hoả
lực của bộ binh ta, tạo điều kiện thuận lợi để đánh
thắng kẻ thù.
Trần
Đại Nghĩa cũng là một nhà nghiên cứu rất có quyết tâm,
không sờn lòng trước những khó khăn. "Người nghiên cứu
phải có một niềm tin mãnh liệt không nản chí trước những
thất bại tạm thời, bền bỉ, nhẫn nại đến mức cao nhất",
ông luôn nghĩ và làm như vậy.
Vì
những đóng góp to lớn đối với quân đội Việt Nam nói
riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, Trần Đại Nghĩa
được kết nạp vào Đảng năm 1949 và được phong quân hàm
Thiếu tướng.
Ngày
Quốc tế lao động năm 1952, Trần Đại Nghĩa được tuyên
dương Anh hùng lao động trong số bảy Anh hùng của Đại
hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc được
tổ chức tại Việt Bắc. Bác Hồ trong một bài báo ký tên
C.B đã viết về ông: "Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là
một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự
Tổ quốc, phục vụ kháng chiến".
Năm
1996, giáo sư Trần Đại Nghĩa đã được Nhà nước trao Giao
thưởng Hồ Chí Minh với công trình: "Nghiên cứu và chỉ
đạo kỹ thuật chế tạo súng Bazôka, súng SKZ, đạn bay
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
1945-1954". Trước đó, ông cũng được Đảng và Nhà nước
trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công
hạng ba và Huân chương Quân công hạng nhất.
Được
Đảng và Nhà nước tin tưởng, ông đã lần lượt đảm trách
những chức vụ quan trọng:
Cục
trưởng Cục Quân giới (12/1946-05/1954)
Cục
trưởng Cục Pháo binh (8/1949-11/1951)
Thứ
trưởng Bộ Công nghiệp (9/1950-9/1960)
Thứ
trưởng Bộ Công nghiệp nặng (9/1960-2/1963)
Phó
Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết Nhà nước (2/1963-3/1972)
Chủ
nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước (10/1965-8/1966)
Phó
Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần (8/1966-1/1977)
Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (1/1977-1/1983), tiền
thân của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc
gia ngày nay.
Năm
1983, ông nhận nhiệm vụ vận động đội ngũ trí thức trong
tất cả các ngành khoa học và công nghệ thành lập Liên
hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp
hội). Giáo sư Trần Đại Nghĩa trở thành Chủ tịch đầu tiên
của Liên hiệp hội, nhiệm kỳ 1983-1988.
Dù ở
cương vị nào ông cũng hoàn thành nhiệm vụ. Là một quân
nhân, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa luôn dũng cảm, tận tuỵ.
Là một nhà khoa học, Giáo sư, Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa
học Liên Xô Trần Đại Nghĩa đã nêu tấm gương của một nhà
nghiên cứu chân chính, hết lòng vì sự nghiệp khoa học.
Quay lại |