|
GIÁO SƯ PHAN NGỌC, NHÀ KHOA
HỌC CỦA NHIỀU NGÔN NGỮ
 |
|
Hồ Chủ Tịch với cán
bộ giáo viên của trường Đại học tổng hợp Hà Nội
những năm 1950 |
Xứ Nghệ
từ lâu được xem là vùng đất của nhiều hiền tài. Xét trên
phương diện một tấm gương tự học để trở thành một nhà
khoa học lớn, một người có vốn liếng ngoại ngữ nhiều và
giỏi, một người luôn tự tìm ra phương pháp nghiên cứu
độc đáo đến kì lạ thì người ta hay nhớ về Giáo sư Phan
Ngọc. Đời ông, chỉ có một tấm bằng tú tài, có học qua
trường Y, sau đó nhập ngũ làm lính Sư đoàn 304. Hòa bình
lập lại, làm việc ở Bộ Văn hóa, giảng dạy ở Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, địa chỉ khoa học cuối cùng trước
khi nghỉ hưu là Viện Đông Nam Á thuộc Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn Quốc gia.
Ở
Việt Nam, sau Trương Vĩnh Ký (một ký giả, dịch giả lớn
đầu thế kỷ 20) thì GS. Phan Ngọc là người thứ hai có một
vốn ngoại ngữ đáng kinh ngạc. Năm 1976, để chuẩn bị khẩn
trương cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, GS. Phan
Ngọc dám nhận trước Trung ương dịch cuốn Triết học Hegel
từ nguyên bản tiếng Đức hoàn thành vượt thời hạn 3 tháng.
Ông còn dịch Thần thoại Hy Lạp từ nguyên bản tiếng Hy
Lạp; Spartacus từ nguyên bản tiếng Ý; Chiến tranh và hoà
bình của Lev Tolstoy từ nguyên bản tiếng Nga; Sử ký Tư
Mã Thiên từ nguyên bản tiếng Hán; Shakespeare từ nguyên
bản tiếng Anh... Với một chục ngôn ngữ, trong mấy mươi
năm qua, GS. Phan Ngọc đã thầm lặng làm việc với bút
danh Nhữ Thành.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, Phan
Ngọc học chữ Hán chỉ để khỏi phật ý người thân, còn hoạn
lộ của ông sẽ thênh thang nếu ông đi theo con đường được
gia đình vạch sẵn: vào trường Luật. Thế nhưng, cậu tú
Phan Ngọc lại nuôi một chí hướng khác, mọi sự đảo lộn
khi ông vào trường Y và sau đó nhập ngũ làm lính ở sư
đoàn 304, rồi về làm việc ở Bộ Văn hoá, Đại học Tổng hợp
Hà Nội và hiện nay là Viện Đông Nam Á - Trung tâm Khoa
học xã hội và Nhân văn.
Dường như có cái gì đó “bẩm sinh năng khiếu” trong việc
học tiếng nước ngoài ở ông, điều này ông giải thích một
cách giản dị: “Tôi đã tìm ra cái mẹo của cách học”.
Không giống như nhiều người, trong chúng ta hôm nay lao
vào học ngoại ngữ như đi tìm một sinh kế. GS. Phan Ngọc
đã vượt qua giới hạn dùng ngôn ngữ như một công cụ môi
giới văn hoá mà ông dùng ngôn ngữ để trực tiếp khảo sát
văn hoá các dân tộc, các khoa học xã hội mũi nhọn đang
phát triển trên thế giới - theo cả chiều rộng và chiều
sâu. Học hàm “giáo sư ngôn ngữ học” chưa phản ánh đầy đủ
năng lực thực tế của ông. Đọc các công trình, nghe các
bài giảng và qua tiếp xúc có thể nhận ra ông còn là nhà
dân tộc học, nhà triết học, nhà mỹ học, nhà Hán học, nhà
nghiên cứu văn học... Những lĩnh vực ông nghiên cứu
không dừng lại ở các hiểu biết thông thường mà theo
phương châm “cáh vật, trí tri” (biết đến tận cùng sự vật,
biết đến tận cùng sự biết). Ông thường được học trò gọi
là “ông đồ xứ Nghệ đời mới”. Cốt cách ông đồ và trí thức
hiện đại như là hiện thân của sự nghiệp khoa học ông đã
và đang theo đuổi để chứng minh rằng: con người Việt Nam
với bản sắc văn hoá của mình hoàn toàn có đủ khả năng
đuổi kịp và đứng vững trong nền văn minh công nghiệp,
văn minh tin học.
Mục đích của đời tôi là chỉ tìm phương pháp làm việc có
lợi ích cho nhân dân nước tôi” - Phan Ngọc viết như vậy
và quả thật ông đã dành tất cả tâm sức cho mục đích. Từ
những năm 1960, chiến tranh khốc liệt, không mấy ai biết
trên căn gác xép chật chội ở số nhà 57, phố Bùi Thị Xuân,
Hà Nội kia lại có vị học giả đang cặm cụi, nghiền ngẫm
suy tư để trả lời câu hỏi: sau chiến tranh, nước Việt
Nam phải phát triển văn hóa như thế nào trong một thế
giới hiện đại? 30 năm sau, câu trả lời ông tìm ra từ
ngày ấy mới được công bố, vì theo ông, công cuộc đổi mới
khởi đầu từ Đại hội Đảng VI cho ông những điều kiện cần
thiết. Điều thú vị là trong các công trình này, ông sử
dụng thao tác luận (operationalist) - phương pháp nghiên
cứu ít người biết và sử dụng ở Việt Nam - để nghiên cứu
văn hoá và kiên trì với công cụ đó một cách nhất quán.
Ông quy hiện tượng ra thành một chùm quan hệ rồi tìm
trong đó quan hệ nào có thể tác động để đổi mới cuộc
sống.
Nghiên cứu nho giáo, ông đi tìm cái bất biến trong cái
khả biến, chỉ ra rằng chỉ có Khổng Tử và Nho giáo chân
truyền mới là Nho giáo đích thực, còn Hán Nho, Tống Nho,
Minh Nho... là cái khả biến nảy sinh từ cái bất biến
Khổng Tử. Ông chứng minh sự tiếp thu văn hoá Hán của
Việt Nam sau thế kỷ X là một kiểu lựa chọn đúng vì có
như thế người Việt mới có thể xây dựng được sự thống
nhất chính trị - văn hoá đủ sức đương đầu với phong kiến
phương Bắc. Ông luận chứng bản sắc văn hoá dân tộc là
một kiểu lựa chọn từ quan hệ qua lại giữa thế giới biểu
tượng và thế giới thực tại... Để chứng minh Nho giáo
Việt Nam mang nhiều đặc điểm dị biệt với Nho giáo Trung
Hoa, ông đưa ra khái niệm “độ khúc xạ trong giao lưu văn
hoá”...
Biên độ các vấn đề nghiên cứu của GS. Phan Ngọc rất rộng:
Bằng phong cách học, ông nghiên cứu Truyện Kiều để tìm
ra cống hiến nghệ thuật thiên tài của Nguyễn Du “trước
đó không ai làm được và sau đó khó có ai làm được”. Ông
quan tâm tới cách chữa lỗi chính tả cho học sinh. Ông
nghiên cứu sự tiếp xúc ngôn ngữ Đông Nam Á. Ông nghiên
cứu Đỗ Phủ - nhà thơ dân đen. Ông bàn chuyện dịch Đạo
đức kinh, ông quan tâm tới Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình
Chiểu, tới văn hoá cố đô Huế. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí
Minh là một say mê của ông, ông nghiên cứu Hồ Chí Minh
một cách trân trọng, sâu sắc, có cách lý giải riêng.
Nhìn vào danh mục những vấn đề nghiên cứu hẳn sẽ có
người nghi ngờ chất lượng của chúng nếu không tìm hiểu
cơ chế làm việc của ông. GS. Phan Ngọc tự đặt ra yêu cầu
bản thân phải đạt tới một sự thức nhận (prise de con
scince) về đối tượng và phương pháp của mình. Ông cho
rằng: “Nếu không thực hiện được sự thức nhận ấy - dù
người nghiên cứu có tài giỏi, uyên bác đến đâu, anh ta
có làm việc nghiêm túc, công phu đến đâu - công trình
của anh ta vẫn cứ thiếu chính xác”. Từ sự thức nhận, ông
nghiên cứu văn hoá - lĩnh vực cực kỳ đa dạng với phương
thức tiếp cận đa ngành và đòi hỏi mình phải thông thạo
những lĩnh vực khác nhau của văn hoá. Những tri thức địa
- văn hoá, lịch sử học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, nhân
chủng học... được ông vận dụng một cách hệ thống, phù
hợp và có hiệu quả. Cả tính sáng tạo đầy bản lĩnh của
ông được bảo đảm bằng một trí tuệ uyên bác, một phương
pháp làm việc nghiêm túc, lập luận chặt chẽ, kết hợp
uyển chuyển, linh hoạt giữa lý luận và thực tiễn, giữa
lý trí và trái tim mỹ cảm, giữa quan điểm Mác-xít và
phẩm cách một nhà Nho...
Chuyến đi Hồng Kông của ông đầu năm 1994 để thuyết giảng
về thơ Đường đã để lại cho ông nhiều kỷ niệm. Bà Kim
Tuyến (người thư ký, người vợ cần cù, tận tuỵ và khó
tính của ông) cho biết một vài chuyện. Một tiến sĩ người
Mỹ rất rụt rè trong tiếp xúc, rồi nói thật rằng, ông
ngại vì người Mỹ vốn là kẻ thù của Việt Nam. GS. Phan
Ngọc trả lời: “Chỉ những kẻ lừa dối nhân dân Mỹ, đem
quân xâm lược Việt Nam mới là kẻ thù; còn chúng ta nhân
dân Mỹ và các nhà khoa học là bè bạn”. Viện sĩ Nhiễu
Tông Di - vị trưởng lão đáng kính, ở tuổi trên 80 đã “hạ
sơn” để cùng Phan Ngọc xuống một quán trà nổi tiếng ở
Hồng Kông đàm đạo vì đã lâu không có tri kỷ.
Từ Hồng Kông, Singapore trở về Hà Nội, GS. Phan Ngọc lại
say sưa chuẩn bị xuất bản cuốn Từ điển Anh - Việt hơn
100.000 từ và sau đó soạn tiếp Từ điển Việt - Anh với số
từ tương đương. Ông làm việc không nghỉ và hàng tuần vẫn
dành 6 giờ học tin học, để có thể sử dụng chiếc máy vi
tính ông mua sắm bằng thù lao giảng bài. Ở tuổi trên 70,
“ông đồ xứ Nghệ đời mới” vẫn đầy hoài bão và nhiệt
huyết.
Theo Vusta, báo Nghệ An
Quay lại |