|
CỐ GIÁO SƯ LÊ VĂN THIÊM
 |
|
GS.TSKHLê Văn Thiêm (1918-1991) |
Giáo sư Lê Văn Thiêm sinh ngày
29/3/1918 tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Mồ côi mẹ từ năm 13 tuổi. Năm 1937 thi đỗ tú tài phần
thứ nhất, 1939 thi đỗ thứ nhì trong kỳ thi kết thúc lớp
P.C.B, nhờ vậy được cấp học bổng sang Pháp du học.
Giáo sư Lê Văn Thiêm là một tài
năng toán học xuất sắc, có công lớn trong việc xây dựng
và phát triển ngành toán học Việt Nam. Ông là một trong
những người đầu tiên giải được Bài toán ngược của Lý
thuyết phân phối giá trị hàm phân hình, hiện nay trở
thành kết quả kinh điển trong lý thuyết này. Xây dựng
một số phương pháp độc đáo trong vật lý toán.
Năm 1963, nghiên cứu công trình
về ứng dụng hàm biến phức trong lý thuyết nổ, vận dụng
phương pháp Lavrentiev, GS Thiêm cùng các học trò tham
gia giải quyết thành công một số vấn đề thực tiễn ở Việt
Nam: Tính toán nổ mìn buồng mỏ đá Núi Voi lấy đá phục vụ
xây dựng khu gang thép Thái Nguyên (1964); Phối hợp với
Cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng lập bảng tính toán nổ mìn làm
đường (1966); Phối hợp với Viện Thiết kế Bộ Giao thông
vận tải tính toán nổ mìn định hướng để tiến hành nạo vét
kênh Nhà Lê từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh (1966 – 1967).
Sau khi Viện Toán học thành lập,
GS nhận thấy cần ứng dụng hàm biến phức sang các lĩnh
vực khác như: lý thuyết đàn hồi, chuyển động của chất
lỏng nhớt,… Nhiều vấn đề lớn của đất nước như: Tính toán
nước thấm và chế độ dòng chảy cho các đập thuỷ điện Hòa
Bình, Vĩnh Sơn; Tính toán chất lượng nước cho công trình
thuỷ điện Trị An,… đã được GS và những người cộng tác
như: Ngô Văn Lược, Hoàng Đình Dung, Lê Văn Thành, …
nghiên cứu giải quyết. Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với
ứng dụng, Lê Văn Thiêm đề xuất một phương pháp độc đáo
sử dụng nguyên lý thác triển đối xứng của hàm giải tích
để tìm nghiệm tường minh cho bài toán thấm trong môi
trường không đồng chất. Công trình này được đánh giá cao,
được đưa vào cuốn sách chuyên khảo “The Theory of
Groundwater Movement” (Lý thuyết chuyển động nước ngầm)
của nữ Viện sĩ người Nga P.Ya.Polubarinova Kochina, xuất
bản ở Matxcơva năm 1977.
Ông là người Việt Nam đầu tiên
bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ ở Đức năm 1944 về Giải
tích phức, Luận án Tiến sĩ Quốc gia ở Pháp năm 1948 và
cũng là người Việt Nam đầu tiên được mời làm Giáo sư
Toán học và Cơ học tại Đại học Tổng hợp Zuyrich (Thụy Sĩ,
1949).
Ông là Hiệu trưởng của hai trường
Đại học Khoa học cơ bản, Sư phạm Cao cấp (1950 – 1954),
Giám đốc Đại học Khoa học Hà Nội (1954 – 1956), Phó Hiệu
trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956 – 1970),
Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học (1970 – 1980),
Hội trưởng đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam (1966 –
1988), Tổng biên tập đầu tiên của hai tạp chí “Acta
Mathematica Vietnamica” và “Vietnam Journal of
Mathematics”.
Là Đại diện toàn quyền của Việt
Nam tại Viện Liên Hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna, Liên Xô
(1956 – 1980), Đại biểu Quốc hội khoá II và khoá III.
Huân chương Kháng chiến hạng 3, Huân chương Lao động
hạng 2, Huân chương Kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng
nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất, Giải thưởng Hồ Chí
Minh đợt I (1996) về Cụm công trình nghiên cứu cơ bản
của toán học lý thuyết và những bài toán ứng dụng
(1960-1970).
Quay lại |