|
GIÁO SƯ TIẾN SỸ KHOA HỌC BÙI VĂN GA
Từ khi còn là một nghiên
cứu sinh tại Pháp, ông đã có ý tưởng muốn thực hiện một
công trình nghiên cứu giúp hạn chế lượng khí thải ô
nhiễm môi trường từ một số loại phương tiện giao thông
tại quê nhà. Và, một sáng chế độc đáo, được xem là duy
nhất trên thế giới - xe gắn máy sử dụng hai nhiên liệu
gas và xăng - đã giúp ông trở thành nhà khoa học nổi
tiếng, xuất sắc… Ông là GS.TSKH Bùi Văn Ga, Giám đốc Đại
học Đà Nẵng. Ông đã chia sẻ những suy nghĩ cũng như
kinh nghiệm về công tác nghiên cứu khoa học, quản lý…
Xin ông cho biết một vài
suy nghĩ của mình về mối quan hệ giữa đào tạo và nghiên
cứu khoa học trong các trường đại học hiện nay?
Đào tạo và nghiên cứu
khoa học là hai nhiệm vụ chính của một trường đại học.
Thầy giáo phải nghiên cứu khoa học thì mới cập nhật được
kiến thức để bổ sung bài giảng, và có như vậy, kiến thức
truyền đạt cho sinh viên mới luôn là kiến thức mới. Khác
với bậc phổ thông, dạy đại học không phải chỉ truyền đạt
kiến thức đã có sẵn mà phải dạy cho sinh viên cách suy
luận, tìm tòi, khám phá. Chính vì vậy trong xếp hạng các
trường đại học đẳng cấp quốc tế, người ta đặt trọng số
rất nặng vào thành quả nghiên cứu khoa học của thầy và
trò. Tên tuổi của trường đại học gắn liền với những
thành tựu khoa học chứ không phải quy mô đào tạo. Ở nước
ngoài, thông thường giảng viên đại học giảng 1 giờ ở lớp
thì nghiên cứu 8 giờ ở phòng thí nghiệm. Ở nước ta hiện
nay, do quy mô đào tạo của các trường đại học tăng nhanh,
số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy phát triển không theo
kịp yêu cầu nên đại bộ phận giảng viên đại học phải tập
trung giảng dạy là chính, vì vậy, công tác nghiên cứu
khoa học chưa được chú trọng đúng mức. Nguy cơ hiện nay
là giảng viên đại học quên mất thói quen nghiên cứu khoa
học và xem nghiên cứu khoa học không phải là nhiệm vụ
của mình. Những cán bộ giảng dạy làm nghiên cứu khoa học
hiện nay chỉ bao gồm một số ít người có lòng đam mê thật
sự. Những năm gần đây, Nhà nước tập trung đầu tư khá lớn
cho một số phòng thí nghiệm trọng điểm có trình độ hiện
đại. Tuy nhiên, do giảng viên bị quá tải trong công tác
giảng dạy nên việc khai thác các phòng thí nghiệm này
còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
giáo dục đại học. Nếu không thay đổi tư duy trong hàng
ngũ cán bộ giảng dạy đại học thì ước mơ một trường đại
học của ta được xếp hạng vào danh sách các trường đại
học đẳng cấp quốc tế sẽ rất xa vời.
Ông đã có những công
trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Vậy, bí quyết
nào đã giúp ông gặt hái được thành công đó?
Thực ra kết quả nghiên
cứu khoa học của tôi vẫn còn rất khiêm tốn, chưa làm
được gì nhiều. Từ khi còn là sinh viên, tôi đã rất đam
mê nghiên cứu khoa học. Óc quan sát và so sánh giúp tôi
xác định được những vấn đề mình cần quan tâm nghiên cứu
để có khả năng ứng dụng cao. Qua trao đổi với đồng
nghiệp nước ngoài, tôi học tập được cách tiếp cận những
vấn đề lớn của nhân loại (chẳng hạn, vấn đề năng lượng
và môi trường) cũng như cách xử lý những vấn đề này để
trên cơ sở đó nghiên cứu áp dụng vào tình hình cụ thể
của nước ta.
Là Giám
đốc của một trường đại học, phải đảm đương khối lượng
công việc quản lý không nhỏ, lại tham gia giảng dạy, vậy
quỹ thời gian ông dành cho nghiên cứu khoa học như thế
nào?
Đại học Đà Nẵng là một
đại học vùng, trọng điểm gồm 8 trường thành viên và đơn
vị trực thuộc với 1.700 cán bộ và hơn 60.000 sinh viên
các hệ. Việc quản lý một trường đại học lớn như vậy đòi
hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức. Dĩ nhiên trong
hoạt động của mình, tôi phải ưu tiên dành thời gian cho
công tác quản lý. Cách tổ chức công việc và tư duy khoa
học giúp tôi rất nhiều trong công tác này. Trong khoảng
thời gian ngoài giờ eo hẹp của mình, tôi phải thu xếp
các hoạt động nghiên cứu khoa học sao cho có hiệu quả
cao nhất. Trong nghiên cứu khoa học, việc đầu tiên là
phải hình thành một nhóm nghiên cứu. Kinh nghiệm tổ chức
nhóm nghiên cứu của người Nhật rất bổ ích cho chúng ta,
nhóm nghiên cứu bao gồm Giáo sư đầu ngành, các Phó Giáo
sư, giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên... Giáo sư
phải là “tổng công trình sư” của đề tài nghiên cứu, các
đồng nghiệp còn lại phối hợp triển khai các ý tưởng của
Giáo sư. Ở Đại học Đà Nẵng, tôi đã hình thành được một
nhóm nghiên cứu như vậy. Nhóm do tôi đứng đầu có 15 cán
bộ với 14 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án
tiến sỹ hoặc đang tiến hành thực hiện luận án. Nhờ tổ
chức tốt việc phân công trách nhiệm và phối hợp công tác
có hiệu quả với các đồng nghiệp, tôi có thể duy trì các
hoạt động khoa học của mình song song với công tác quản
lý.
Ông có lời khuyên gì đối
với các giảng viên trẻ?
Cán bộ giảng dạy đại học
tốt phải là nhà nghiên cứu giỏi. Các bạn giảng viên trẻ
khi đã xác định gắn bó đời mình với sự nghiệp giáo dục
và đào tạo thì nên chuẩn bị hành trang thật vững chắc để
bước vào môi trường nghiên cứu khoa học. Đầu tiên, ngoại
ngữ là chìa khóa để các bạn trẻ đi vào kho tàng tri thức
của nhân loại. Vì vậy, cần chuẩn bị ngoại ngữ thật tốt.
Việc thứ hai là xác định cho mình một hướng nghiên cứu
khoa học thích hợp. Qua internet, chúng ta có thể tìm
kiếm được các thông tin để mình lựa chọn hướng nghiên
cứu. Việc cuối cùng là hãy tạo cho mình một niềm đam mê
nghiên cứu khoa học. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
có chủ trương chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học.
Cán bộ giảng dạy lý thuyết phải có bằng tiến sỹ. Đây là
chủ trương rất đúng đắn để nâng cao chất lượng giảng dạy
đại học ở nước ta và cũng là động lực để thúc đẩy sự
phấn đấu vươn lên của các bạn giảng viên trẻ.
GS-TSKH Bùi Văn Ga sinh
năm 1957 tại Quy Nhơn - tỉnh Bình Định. Năm 1989, ông
nhận học vị TS tại Trường Đại học Trung tâm Lyon (Cộng
hoà Pháp) và năm 1994 là TSKH chuyên ngành Truyền nhiệt.
Năm 1996, ông được phong PGS và năm 2002 trở thành GS
trẻ nhất nước ta (tại thời điểm đó). Trong hơn 10 năm
qua, GS-TSKH Bùi Văn Ga đã công bố hơn 80 bài báo, 70
báo cáo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu có giá
trị trên các tạp chí khoa học và tại các hội nghị khoa
học quốc gia, quốc tế. Với những thành tích đã đạt được
trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác
quốc tế, GS-TSKH Bùi Văn Ga đã được tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Ba, Bằng khen của Thủ tướng Chính
phủ; được Chính phủ nước Cộng hòa Pháp tặng thưởng Huân
chương Hàn lâm hạng Ba và Huân chương Hàn lâm hạng Nhì;
Giải thưởng khoa học của Hiệp hội Các trường ĐH cộng
đồng Pháp ngữ (AUF) và nhiều phần thưởng cao quý khác.
LV (theo TCHĐKH)
Quay lại
|