|
PHẢI THẬT
LÒNG THƯƠNG YÊU ĐỒNG BÀO
|
 |
|
Bác Hồ vun xới
cây vú sữa của đồng báo miền Nam gửi ra biếu Bác -
Ảnh tư liệu |
Khi mới giành
được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát
động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói. Hũ gạo tình
thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng
ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu,
người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ
được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu
đói) những người dân thiếu đói.
Bác cũng tự
nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu
cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác
thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết
chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh
hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói mới
hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện.
Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu
đói của địa phương.
Năm 1946, khi
dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người
dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân
viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực
khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa
ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho
hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để
cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình.
Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta
xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích.
Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm
gương tiêu biểu nhất.
Đất nước ta
trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn
đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn
dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của
ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất
khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của
những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ
“Miếng khi đói bằng gói khi no”, sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho
người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật
lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành
tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi,
mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần
giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm
theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
NGUYỄN KHẮC
LUÂN (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh)
Bác Hồ với miền
Nam - Miền Nam với Bác Hồ
Bác muốn qua
cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng
bào, chiến sĩ miền Nam
Tấm lòng của
Bác với miền Nam
.... Năm 1963,
ba năm sau Đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng
triệu tập tôi ra Hà Nội báo cáo tình hình. Ra đến nơi, vừa
vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: "Bác kêu anh đấy". Tôi
vội vàng đế chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc
bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một
tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, đi chân đất. Bác
nói:
- A, chú Cúc
đấy phải không. Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen
ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân miền Nam. Chú ngồi
xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ trung ương cục đóng ở đâu?
Tôi chỉ Tây
Ninh và thưa:
- Thưa Bác đóng
ở Tây Ninh ạ.
Bác liền hỏi:
- Tôi nghe là ở
Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến chống Pháp, các đồng chí
Phạm Hùng, Trần Văn Trà và ban lãnh đạo Phân liên khu miền
Đông rất khó khăn về gạo, phải tích từng lon. Thế bây giờ
thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người được bao nhiêu?
- Thưa Bác, gần
30 ki-lô-gam.
- Tới gần 30
ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú hay chiến sĩ?
- Dạ, đó là anh
em chiến sĩ thanh niên, chứ chúng cháu không ăn hết được.
- Thế thì tốt
lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?
- Dạ, đó là nhờ
dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau Đồng khởi, bà con ở Miền
Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh chính trị, theo đường lối "hai
chân, ba mũi", vừa chống địch càn quét đánh phá, vừa đẩy
mạnh sản xuất nên bây giờ bà con đã có đủ gạo ăn và nuôi
khánh chiến. Ta cũng đã phá được thế bao vây chia cắt của
địch giữa các vùng. Cho nên đảm bảo được những nhu cầu cần
thiết yếu cho cả đồng bào và chiến sĩ, không đến nỗi khó
khăn như thời kháng Pháp.
- Tốt lắm các
chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng liệu có được lâu
không?
- Thưa Bác, khi
chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã làm rồi thì càng thấy
rõ trên thực tế là đường lối của Đảng rất đúng. Cho nên chắc
chắn là sẽ giữ được lâu dài.
Quả thật, những
năm về sau, mãi đến mùa xuân năm 1975, đồng bào và chiến sĩ
miền Đông vẫn không bị đói. Hồi năm 1952, ở miền Đông Nam Bộ
ta chỉ có hai trung đoàn, mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân
dân và bộ đội đều bị đói, phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội
xuống miền Tây (vùng Đồng Tháp) để có gạo ăn. Số còn lại mỗi
người mỗi tháng chỉ có năm lít gạo.
Tôi rất xúc
động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống
cho đồng bào, chiến sĩ cán bộ. Từ câu hỏi đó, Bác hỏi đến
phong trào tình hình chung, rồi Bác phân tích, Bác khen làm
như thế là giỏi và hướng dẫn, chỉ vẽ thêm cách làm cho thời
gian tới.
Năm 1968, tôi
lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này Bác đang mệt. Lần
đó tôi đi cùng đồng chí Trần Độ. Đồng chí Vũ Kỳ (thứ ký của
Bác, hôm đó cũng có mặt) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và
anh Trần Độ. Được Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng
nghe Bác mệt, cả tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.
Hôm đó, cả tôi,
anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với Bác. Tôi thấy Bác ăn
rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm và bảo anh Kỳ xúc cho
thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi người ăn cho hết thức ăn,
không để thừa. Tôi và anh Trần Độ thấy vậy mừng quá. Bác
đang mệt mà Bác vẫn ăn được.
Sau đó, anh Vũ
Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để các anh về nói lại
cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết rằng nếu đồng bào và
chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ lo lắng biết bao nhiêu.
Năm 1969, tôi
lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này Bác đã mệt nhiều,
khi tôi được vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp
chuyện nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác
vẫn còn đang khỏe. Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy
như mọi lần có treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên
chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí
Vũ Kỳ cho biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn
yêu cầu cán bộ Bộ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình
chiến sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!
Cho đến hôm gần
thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính
trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không ở trong Bộ Chính trị
nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam ra, nên Bác cũng cho kêu
đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau
đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa.
Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác thể hiện một tình cảm thật
sâu sắc không bút nào tả xiết. Riêng đối với tôi, tôi hiểu
rằng tình cảm của Bác không phải đối với riêng tôi, mà Bác
muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối
với đồng bào, chiến sĩ miền Nam trước khi Bác từ biệt cõi
đời để theo các cụ Mác, Lênin.
Miền Nam hướng
về vị cha già dân tộc
Tấm lòng của
nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như
hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi
rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng
vì hai em tuổi vị thành niên, nó phải thả. Nhưng trước khi
thả, nó giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em,
nó trải hình Bác dưới đất và bảo: "Tụi bây có muốn ra khỏi
đây thì phải bước qua tấm hình đó!". Hai cháu quay trở vào
chứ không bước qua.
....Hay
như những năm 1955 - 1956, sau khi Mỹ - ngụy dẹp xong Bình
Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân
cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà
hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần
chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có
trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết
thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất
nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu
khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy.
Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những
kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát
từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ:
Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại
thành công!
Khi Bác mất,
rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng địch tạm
chiếm. Ở viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em
xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ
Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (Cửu Long), ở xã Viên An
(huyện Ngọc Hiển, Minh Hải). Nhiều nhà tri thức công giáo
như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác
đăng trên báo công khai ở Sài Gòn, v.v....
Để đàn áp phong
trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ
Tho trước khi Đồng Khởi, có chi bộ bị chúng bắn giết chết
hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ
lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông
ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ
ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ
yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh
vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức
thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam
lúc đó.
Sau đó, Xứ ủy
đã bàn bạc, phân tích tình hình địch - ta và góp ý kiến với
đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng
miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện
vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được
Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng
và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong
trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15, Bác đã đóng góp
rất nhiều ý kiến.
Tôi nói những
điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân
miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ
những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là Lãnh
tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là
nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta
cho đến ngày nay.
NGUYỄN VĂN LINH
Nguyên Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam
Quay lại |