|
5-6-1911:
CHUYẾN RA ĐI LỊCH SỬ
Đã 97 năm kể từ
ngày 05-6-1911, ngày chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành bước
lên con tàu thủy với hai bàn tay trắng, trái tim nóng bỏng
nỗi đau mất nước và quyết tâm sắt đá: khôi phục lại nước
Việt, bảo vệ nền độc lập và cuộc sống tự do cho mọi người.
Ước vọng quá
lớn với một chàng trai 21 tuổi. Nhưng đã thành hiện thực.
Chàng trai đã đi vào lịch sử, viết nên lịch sử.
96 năm sau,
nước Việt Nam không chỉ có độc lập, tự do, dân Việt không
chỉ có cơm ăn, áo mặc, được học hành như ước vọng của Người.
Những năm đầu TK 21 này, nước Việt Nam đã có một vị thế mới.
Lại nhớ lời
Người: "sánh vai với các cường quốc năm châu". Bác ơi, ngày
này chúng cháu muốn nhắc lại vài câu chuyện về anh Ba
thuở ấy. Để biết rằng con đường sáng lạn mà cả dân tộc đang
đi đã bắt đầu từ bước chân cô đơn của Người như thế nào....
TTO xin
trích đăng lại một số mẩu chuyện ghi lại những bước
hoạt động đầu tiên của Người, trích trong sách
Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của
tác giả Trần Dân Tiên - NXB Trẻ 2005.
Ra đi với hai
bàn tay
...Một vị trí
thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
"Trong khi còn
học ở trường Chasseloup–Laubat, tôi gặp một người thanh niên
ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà một người bạn. Vì cùng một lứa
tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi
đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp xem đèn điện, xem
chiếu bóng và máy nước. Những cái đó trước kia anh chưa hề
thấy.
Một hôm tôi mời
anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem.
Sau ít hôm, anh
đột nhiên hỏi tôi: "Anh Lê, anh có yêu nước không?"
Tôi ngạc nhiên
và đáp: "Tất nhiên là có chứ!"
"Anh có thể giữ
bí mật không?"
"Có".
"Tôi muốn đi ra
ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ
làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng
nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi
đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?"
"Nhưng bạn ơi,
chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?"
"Đây, tiền đây"
– Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay – "Chúng ta sẽ
làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi.
Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?"
Bị lôi cuốn vì
lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ
về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can đảm để giữ lời hứa.
Vài ngày sau,
tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi
ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau,
tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là
Cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay".
Anh phụ bếp kỳ
lạ
Ông Mai ở Hải
Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu Pháp của hãng "Vận
tải hợp nhất" đã cho chúng tôi biết những điều mà ông Lê
không rõ.
Ông Mai kể lại:
"Vào khoảng
cuối năm 1911 hay 1912 – tôi không nhớ đúng nữa – tôi làm
việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu chúng tôi cặp
bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.
Một buổi trưa,
một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập ngừng, anh ta
hỏi xin việc.
Chúng tôi trả
lời là không có việc và có chăng nữa, chúng tôi cũng không
có quyền nhận anh ta. Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một
anh học trò, không phải là người lao động như chúng tôi.
Chúng tôi nói nhỏ với nhau: "Một người như thế có thể làm
được công việc gì trên tàu?".
Tôi không hiểu
tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói: "Đi theo tôi,
tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho
anh làm".
Chủ tàu hỏi:
"Anh có thể làm việc gì?"
"Tôi có thể làm
bất cứ việc gì!" – Chàng trai trả lời.
"Được, ta sẽ
lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây nhận việc".
Chàng trai ấy
xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ ấy, cho nên
anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ mến tôi
cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là tôi cố làm
để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết gì cả. Vả lại, anh ấy có
can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải
làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu,
tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống
hầm lấy rau, thịt cá, nước đá v.v...
Công việc khá
nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là
khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang
trong khi tàu tròng trành.
Xong công việc
ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy, nhặt rau, rửa
chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.
Nhà bếp lo cho
bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành khách. Có nhiều cái
chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến nỗi anh Ba phải kéo lê
trên sàn. Và những cái nồi cao quá, anh phải leo lên ghế để
chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:
"Ba, đem nước
đây!"
"Ba, dọn chảo
đi!"
"Ba, thêm than
chỗ này, thêm than chỗ kia!"
Suốt ngày, anh
Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than. Người ta thấy
anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho xong
công việc, và hơn nữa vì chưa quen việc. Anh phải gọt xong
đống củ cải và khoai tây. Anh không biết làm thế nào. Tôi
dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần gọt măng tây. Đây là lần
đầu tiên anh Ba thấy măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi,
thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả quẳng xuống bể tất cả măng
đã gọt và tôi bày cho anh ta phải làm như thế nào. Nhờ thế
không xảy ra việc gì.
Mỗi ngày, chín
giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi
chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười
một giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc, anh Ba là người dưới chúng
tôi, chúng tôi là những người có chức vị, còn anh Ba chỉ là
người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết – anh giúp những
người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia đình họ và anh
không bao giờ nói tục, vì vậy anh Ba được tất cả chúng tôi
yêu mến.
Một lần, dọc
đường, anh Ba suýt chết đuối. Biển nổi sóng. Làn sóng to như
những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi người say sóng.
Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ bếp đến hầm. Không
thể vác những rổ rau lên vai vì tàu tròng trành, anh phải
buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn
sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu và cuốn xuống biển mọi
vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy
vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ vậy mà thoát chết.
Cái gì đối với
anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh
không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh dùng nĩa.
Vài ngày sau
tàu rời bến, có hai hành khách – hai người lính trẻ tuổi
giải ngũ về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở
nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ
cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết.
Và anh Ba lại dạy họ quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ
cốc cà phê. Anh nói với tôi với một vẻ ngạc nhiên: "Anh Mai,
cũng có những người Pháp tốt, anh ạ".
Hồi ấy, Bùi
Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu hạng nhất
cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy Ba,
ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:
"Tại sao con
lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên chọn một
nghề khác, danh giá hơn…". Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu,
nhưng không nói đồng ý hay không.
Đến Mác–xây,
chúng tôi lĩnh lương. Mỗi nhân viên Việt Nam được từ một
trăm đến hai trăm quan, thêm vào đấy tiền thưởng của hành
khách. Anh Ba là phụ bếp, chỉ được mười quan. Anh ta được ít
lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới lạ. Coi tôi là
bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả những điều
anh trông thấy và suy nghĩ.
"Ơ! Ở Pháp cũng
có người nghèo như bên ta!".
Trông thấy
những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:
"Tại sao người
Pháp không "khai hóa" đồng bào của họ trước khi đi "khai
hóa" chúng ta, sao thế anh Mai?"
Tàu điện đối
với anh Ba là một chuyện kỳ lạ.
Lần đầu tiên
anh ta trông thấy những "cái nhà biết chạy" ấy. Cái gì cũng
làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn
luôn anh ta nói
"Lần đầu tiên,
tôi mới thấy cái này…"
Công việc trong
ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần, và chúng tôi đi
đến tiệm cà phê ở đường Ca–nơ–bia. Không cần phải nói, đây
là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và cũng là lần đầu
tiên người Pháp gọi anh bằng "ông".
Sau những ngày
đầu tiên ở Mác–xây, anh Ba tóm tắt cảm tưởng của mình bằng
mấy chữ:
"Người Pháp ở
Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông dương".
Chúng tôi đi
theo tàu lên Ha–vơ–rơ (Havre) để sửa chữa. Chúng tôi được
đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở về Đông Dương.
Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ đem anh về nhà. Từ đấy,
tôi không được tin tức gì của anh Ba nữa…
Không bao giờ
tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người phụ bếp, anh Ba
ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy, lại trở thành Chủ
tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên nước Cộng hòa chúng
ta".
TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ - NXB Trẻ 2005
Quay lại |