|
THEO DẤU
CHÂN ANH BA
Những mẩu
chuyện về anh Ba thuở ấy chỉ là những mẩu chuyện góp nhặt.
Góp nhặt nhưng độ chân xác của nó được tất cả mọi người tin
tưởng, vì chính bản thân con người Hồ Chủ tịch và tinh thần,
tư tưởng của Người mồn một trong từng câu chuyện...
"Tôi là thanh
niên, tôi làm được..." (*)
Theo địa chỉ
ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của tôi, đến gặp
ông Dân ở Nha Trang. Đây là những điều anh Trần ghi chép:
"Ông Dân sáu mươi hai tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch sẽ và
đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và kể
chuyện:
"Tôi có hai con
trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu thương. Nhà tôi
còn ba con nữa; hai mươi hai, hai mươi và mười sáu tuổi, đều
là đoàn viên của đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều
muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó, tôi
sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó dễ làm cho mẹ
cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng nên
nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên phụ nữ cứu
quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả gia đình
tôi đều làm việc nước. Cả làng này đều thế. Ai cũng là Việt
minh, Việt minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt minh – Không thể
có Việt Nam mà không có Việt minh".
Ông Dân có tài
nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác rất thần tình. Kéo
ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý không phải là dễ.
Nhưng sau đó tôi đã thành công.
"Có chứ, tôi
còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh ta mặc dầu cách
đây đã ba mươi năm.
Tôi ở với ông
chủ của tôi ở Xanh A–đơ–ret (Saint–Adresse), một ngoại ô của
Ha–vơ–rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về một người trẻ tuổi,
gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh lợi. Tên anh ta
là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một người đông hương thì lập
tức người ta dễ trở thành bạn thân. Chúng tôi cũng vậy.
Chúng tôi ở một
biệt thự có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh việc thì ở câu
lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà người con gái, vợ
một nhân viên của công ty. Một bà nấu bếp, một người tốt,
nếu anh khéo nịnh thì bà ta cho anh ăn ngon, nhưng khi bà ta
cáu thì như một mụ yêu tinh. Một cô sen xinh xinh hay làm
dáng, có một "bà mẹ hay ốm" – "Bà mẹ ốm" chính là một chàng
thủy thủ. Để đi gặp tình nhân, chị ta lừa chúng tôi luôn và
nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà tất cả là sáu người.
Đồ đồng đánh
bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế là ông chủ bà
chủ bằng lòng và rất tốt, luôn mồm một điều "con" hai điều
"con". Nhưng phần lớn công việc do cô sen làm. Chị ta muốn
cho chóng xong để đi gặp "bà mẹ ốm".
Vì vậy chúng
tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì giờ chăm bón
hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ báo có ảnh trong tủ
sách ra xem. Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: "Anh
Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?". Tôi hơi thẹn nhưng
trả lời thành thật: "Không, tôi không biết". Anh Ba liền
giảng giải và khuyến khích tôi học. Tôi làm theo lời anh.
Anh Ba cũng thế, anh học tiếng Pháp với cô sen. Ngày nay tôi
đọc được và viết được chính là nhờ anh Ba. Để trả ơn, thỉnh
thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem chiếu bóng hoặc xem xiếc.
Chúng tôi ở với
nhau được một tháng. Một buổi chiều người chủ già đi làm về,
nói với anh Ba: "Có một chuyến tàu đi vòng quanh châu Phi.
Không có hành khách. Chỉ có hàng hóa. Anh có muốn nhận làm
bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy không? Họ không đông lắm
đâu, và đều là những người tốt, anh sẽ thấy anh không đến
nỗi vất vả ở trên tàu. Đồng ý chứ?"
Anh Ba vui vẻ
nhận lời. Sau tôi nói với anh: "Ba ơi, khí hậu ở châu Phi
rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc tàu chở hàng rất
tròng trành, rất dễ làm cho anh say sóng. Đi như thế anh dại
dột lắm, nhất là một thân một mình, bầu bạn không có…". Anh
Ba nói với tôi: "Anh không nên nói như thế. Tôi là thanh
niên, tôi khỏe, tôi chịu được khổ. Và tôi muốn đến xem các
nước".
Ngày hôm sau
anh Ba đáp tàu đi, anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể
cho tôi nghe vô số chuyện, nói đến người da đen, người
Ả-rập, nói đến xứ Tê–nê–ri–pho, xứ Lít–bon, đến những con
vẹt… Anh cũng cho biết là người nấu bếp trên tàu cũng là một
đồng hương tên là Bốn … Không để cho ông Dân nói hết câu,
tôi hỏi: "Ông có biết ông Bốn ấy không?"
"Có, tôi biết.
Tôi biết chắc chắn. Anh ta là một người ngớ ngẩn, có khi như
là một người điên. Về già, anh ta trở nên khôn ngoan hơn.
Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta lĩnh được rất nhiều
tiền. Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta tiêu xài trong hai,
ba ngày thì hết sạch số tiện kiếm được trong hai ba tháng.
Chả bài bạc gì. Anh ta chỉ thích đi theo gái. Anh ta xấu như
con quỷ, nhưng anh ta bắt tình nhân với một cô gái nhảy… Và
khi nào hết xu, nàng đuổi anh ra cửa".
"Bây giờ anh ấy
ở đâu?"
"Ông đến Quỳnh
Lâm và hỏi Bốn Sẹo thì ở đấy ai cũng biết. Bây giờ anh ta đã
khôn ngoan hơn và được mọi người mến". Để kết luận cuộc
phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:
"Ông có biết
anh Ba hiện nay thế nào không?"
"Không, tôi rất
tiếc là không biết".
"Ông có muốn
tôi nói cho ông biết không?"
"Còn gì bằng
nữa!"
"Ông quay lại
xem, anh Ba ấy đây kìa". Tôi vừa nói vừa chỉ chân dung Hồ
Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình hoa, bình hương,
đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi mắt, há miệng gãi tai.
Và ông bật lên như một cái lò xo và kêu:
"Hồ Chủ tịch!
Hồ Chủ tịch của chúng ta! A-di-đà-phật! Nhưng làm sao anh
biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ơ, lạ quá nhỉ. Hồ Chủ tịch là
anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ kể điều đó cho bà
nhà tôi nghe, cho các cháu nghe. Chúng nó sẽ mừng biết mấy!
Cha của chúng nó được quen biết Cụ Hồ ngày xưa…"
Nhờ anh Ba, tôi
trở nên một người khá
Tôi lại tìm đến
ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác với ông Dân, và
cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà ông Dân đã nói. Đấy
là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành. Với một giọng nhè
nhẹ, ông kể lại đời mình cho tôi nghe và những mối quan hệ
giữa ông với anh Ba hồi ấy. Ông nói:
"Lúc còn trẻ,
tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp ở trên tàu. Tôi
kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi một xu nhỏ về
cho gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có bao nhiêu nó
nướng hết.
Tôi đi nhiều,
nhưng tôi không thấy gì, không học gì. Tôi hoàn toàn dốt
đặc, không biết đọc, chẳng biết viết. Một lần đi trên một
chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn đồng hương trẻ
tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc, anh Ba viết và đọc
sách. Chính anh đã khuyên tôi học chữ quốc ngữ. Anh Ba có
một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ những lời khuyên bảo
và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên một người khá.
Chiếc tàu nhỏ
rời Ha–vơ–rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, An Giê Ri,
Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi cho đến Công Gô. Đến
đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi lần tàu cập bến, thế nào
anh Ba cũng kiếm cách đi thăm thành phố. Khi trở về, anh có
những ảnh và những hộp diêm đầy túi. Anh thích thu thập
những thứ ấy.
Đến Đa–ca, biển
nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả
ca–nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp
trên bờ bắt những người da đen Pháp phải bơi ra chiếc tàu.
Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này
đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi.
Cảnh tượng ấy
mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm cho anh Ba hết
sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên, tôi hỏi tại sao? Anh Ba
buồn rầu trả lời tôi:
“Những người
Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực
dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta,
tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp
cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó.
Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng
hay da đen cũng không đáng một xu.”
Chiếc tàu của
chúng tôi chở rượu ngon của Boóc–đô và An–giê–ri cho những
thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu dùng rượu đó. Vì
rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều thủy thủ say rượu
suốt chuyến tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ vào thùng rượu, ấn
một ống cao su nhỏ vào đấy, hút thật mạnh để đầu ống kia vào
một cái chai. Và như thế tha hồ mà uống. Nhưng anh Ba không
bao giờ uống rượu và khuyên tôi không nên làm như thế.
Anh Ba rất tốt
với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai. Nhưng anh Ba
hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm để xem mặt trời
mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi
đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Chúng tôi đậu lại ở
Tê–nê–rít–pho vào lúc hoàng hôn, biển lặng sóng, hòn đảo
giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt biển, phía
trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ có thế thôi, mà anh
Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại: "Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp
quá! Hùng vĩ quá!"
Đến lúc trở về
Ha–vơ–rơ, nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi không đến thăm cô
gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến, dành được ít tiền
thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ, và lấy vợ. Nghĩ
đến tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên cho đứa con đầu
lòng của tôi là Ba, điều đó làm cho những người chung quanh
lấy làm lạ. Việc đó cách đây đã ba mươi năm. Ngày giờ đi
chóng quá."
Ông Bốn ngừng
lại. Tôi hỏi tiếp:
"Thế còng ông
bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?"
"Ba cũng rời
chiếc tàu, nói là đi Anh".
"Tại sao đi
Anh?"
"Ba nói để học
tiếng Anh".
"Thế ông có
được tin tức của anh Ba không?"
"Có, hai ba lần
gì đấy, anh Ba kể cho tôi nghe đã gặp ở Luân Đôn một người
đồng hương tên là Nam".
"Ông có biết
ông Nam không?"
"Có, hầu hết
chúng tôi biết nhau, vì chúng tôi đều ở cả trong tổ chức".
"Tổ chức gì?"
"Trước kia là
một hội kín, nhưng từ khi nước ta độc lập thì công khai.
Chính là công đoàn hải ngoại".
"Và từ bấy đến
nay, anh Ba ấy không viết thư cho ông sao?"
"Rất tiếc là
không. Vài năm sau, nghĩa là sau đại chiến Thứ nhất, thỉnh
thoảng một ông bạn lại đến nhà tôi đem theo một gói to tướng
sách báo và nói với tôi: "Ông Ba nhờ ông giữ hộ những thứ
này, trong vài ngày một người bạn tên là X. Sẽ đến lấy". Cứ
thế kéo dài trong mấy năm. Nhưng từ khi cửa hàng của tôi bị
người Pháp khám xét thì không thấy anh Ba gửi nữa. Được gặp
anh Ba, thì nếu mất nửa gia tài, tôi cũng vui lòng"...
TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2005
Quay lại |