|
BÁC HỒ ĐỌC
TUYÊN NGÔN
|
 |
|
Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập
tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu |
Trước đó hai
mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có "Bản án chế độ
thực dân Pháp". Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân
thuộc địa. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam
là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Bây giờ, chính Người
và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi
hành bản án ấy.
Ngày 27
tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng
Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có
việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản
Tuyên ngôn Độc lập.
Mọi việc
chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng
gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản
Tuyên
ngôn Độc lập.
Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ
thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh
thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn
năm.
Kể từ
ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7
Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo
Tuyên ngôn Độc lập.
Trên gác hai
nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm
phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế
tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí
trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía
sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn
sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê
sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh
màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang
từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn
Độc lập.
Nửa đêm hôm ấy,
tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà
Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu,
trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy,
bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày,
phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa
đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng,
đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại
trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô,
đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.
Chỉ mới
cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ,
mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai
trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ
phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo
Tuyên
ngôn Độc lập,
mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự
do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính
Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn
dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào
cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời
vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính
đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ
đài chính trị.
***
Chiều ngày 31
tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ
chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho
đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh
cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các
cháu nhỏ.
Chiều ngày 2
tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh
vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước
máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:
- Cụ Hồ Chí
Minh muôn năm!
- Chủ tịch Hồ
Chí Minh muôn năm!
Và khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc
Tuyên
ngôn Độc lập
thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:
"Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có
thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc..."
Đọc được một
đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể
đồng bào, cất tiếng hỏi:
- Đồng bào nghe
rõ tiếng tôi không?
Tiếng đáp lại
liền ngay như sấm:
- Có!
Người dân và
Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.
Càng về
cuối bản
Tuyên ngôn Độc lập,
giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.
"Chúng tôi tin rằng các nước
đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở
các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không
công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống
ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc
đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó
phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi -
Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà -
trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có
quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước
Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền Tự do, Độc lập ấy!"
Cùng với
ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản
Tuyên ngôn Độc lập
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một
mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và
giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.
Bản
Tuyên ngôn Độc lập
năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng
của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo
chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó
cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi
dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của
mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã
có "Bản án chế độ thực dân Pháp". Nhưng lúc đó, Người mới là
đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy.
Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến
thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.
VŨ KỲ
Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
(trích
Nhớ mãi những phút giây đầu tiên)
Quay lại |