Thứ Ba ngày 29/11/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 25/8/2022

Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491)
Các lò phản ứng hạt nhân hiện tại vẫn là một nguồn năng lượng không thể thiếu trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có 31 quốc gia đang sử dụng điện hạt nhân với hơn 450 lò phản ứng đang vận hành, chủ yếu là các lò phản ứng nước nhẹ (Light Water Reactor - LWR). Trung bình mỗi năm, khoảng 20-25 tấn nhiên liệu đã qua sử dụng sẽ được đưa ra khỏi một lò phản ứng nước nhẹ với công suất 1000 MW điện. Nhiên liệu đã qua sử dụng của lò phản ứng hạt nhân chứa nhiều đồng vị có độ phóng xạ cao và chu kì bán rã lớn, do đó việc xử lý và lưu giữ nhiên liệu đã qua sử dụng vẫn là một thử thách đối với nền công nghiệp hạt nhân. Nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng chứa khoảng 93-94% khối lượng là oxit Uran, 1% Plutoni và khoảng 4-5% khối lượng là các sản phẩm phân hạch. Ngoài ra trong nhiên liệu đã qua sử dụng của lò phản ứng hạt nhân chứa khoảng 0.1-0.2% là các đồng vị Actini hiếm (Minor Actinide “MA”), trong đó chủ yếu là các đồng vị 237Np, 241Am, 243Am, 244Cm và 245Cm. Tuy các đồng vị MA chỉ chiếm một lượng nhỏ trong nhiên liệu đã qua sử dụng, nhưng đây lại là các đồng vị tác động chủ yếu lên độ độc phóng xạ và nhiệt phân rã trong quá trình lưu giữ nhiên liệu đã qua sử dụng. Do đó việc nghiên cứu tiêu hủy các đồng vị này nhằm những tác động có hại của chúng lên kho chứa nhiên liệu và môi trường là cần thiết.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các lò phản ứng là đối tượng tốt nhất để để chuyển hóa các đồng vị MA thành những đồng vị có thời gian sống ngắn hơn. Trong đó, các lò phản ứng dưới tới hạn (Accelerator Driven System “ADS”) và các lò phản ứng nhanh là những đối tượng phù hợp nhất để chuyển hóa MA do chúng có thông lượng cao. Tuy nhiên, những đối tượng lò phản ứng kể trên cần thời gian để kiểm chứng và đưa vào hoạt động trên quy mô thương mại. Do đó, cần phải có một bước chuyển tiếp trung gian trong giai đoạn hiện tại để chờ đợi những công nghệ tiên tiến trong tương lai có thể giải quyết vấn đề chuyển hóa MA. Các lò phản ứng nhiệt tuy có hiệu suất chuyển hóa MA thấp hơn so với lò phản ứng nhanh và ADS, nhưng với số lượng gần như tuyệt đối đang vận hành trên thế giới hiện nay, các lò phản ứng nhiệt có thể được coi là một ứng viên để chuyển hóa các đồng vị MA.

Lò phản ứng VVER của Liên Bang Nga với nhiều ưu điểm về tính an toàn, độ tin cậy đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Lò phản ứng VVER-1200 là phiên bản mới nhất của dòng lò phản ứng VVER. Với công suất lớn, loại lò phản ứng này cũng có thể được xem như một đối tượng có tiềm năng để chuyển hóa các đồng vị Actini hiếm.

Do các tính chất hấp thụ notron tại dải năng lượng nhiệt và có khả năng hấp thụ notron để tạo thành các đồng vị nguyên liệu hạt nhân (fertile), các đồng vị Actini hiếm vừa có thể được xem xét sử dụ ng như “pin” nhiên liệu trong các lò phản ứng, vừa có thể thay thế một phần cho chất hấp thụ cháy được trong các bó nhiên liệu để làm đều phân bố độ phản ứng tại thời điểm ban đầu của lò phản ứng. Việc đánh giá các ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến các đặc trưng vật lý và an toàn của lò phản ứng VVER-1200 là cần thiết.

Xuất phát từ thực tiễn đó, Cơ quan chủ trì Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Cử nhân Trần Vĩnh Thành thực hiện đề tài “Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491)” với mục tiêu: Tính toán quá trình cháy nhiên liệu trong lò phản ứng VVER-1200, đưa ra báo cáo xác định tổng lượng các đồng vị Actini hiếm (Minor Actinides hoặc MAs) sinh ra và khả năng tiêu hủy các chất thải phóng xạ trong quá trình vận hành của lò phản ứng; Nghiên cứu nhiên liệu có chứa Actini hiếm, đưa ra báo cáo phân tích ảnh hưởng của nhiên liệu chứa Actini hiếm đến các đặc trưng vật lý và an toàn của lò phản ứng VVER-1200; Nâng cao năng lực tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491).

Hiện nay, năng lượng hạt nhân vẫn được coi là một nguồn năng lượng không thể thiếu trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với lợi ích đó, sự phát xạ ra những đồng vị phóng xạ bao gồm cả những đồng vị có thời gian sống rất dài trong quá trình vận hành cũng như khi xảy ra sự cố là vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Do vậy, một chu trình nhiên liệu hạt nhân kín (closed fuel cycle) được coi là giải pháp tốt nhất để giải quyết những vấn đề liên quan đến sự phát thải chất phóng xạ ra môi trường xung quanh.

Actini hiếm (Minor Actinide “MA”) gồm ba nguyên tố Neptun, Americi và Curi. Trung bình một năm, một nhà máy điện hạt nhân có công suất 1000 MW điện tạo ra khoảng 20-25 tấn nhiên liệu đã qua sử dụng, trong đó ~93-94% khối lượng nhiên liệu đã qua sử dụng là oxit của Uran, ~4-5% các sản phẩm phân hạch, ~1% Plutoni và ~0.1-0.2% là MA. Tuy lượng MA sinh ra chỉ ~20- 25kg/năm nhưng nó lại là thành phần chủ yếu gây ra nhiệt phân rã trong quá trình lưu giữ nhiên liệu, cùng với đó là sự tích lũy các đồng vị phóng xạ có thời gian sống rất lớn có tác hại đến môi trường.

Lò phản ứng nhanh và lò phản ứng dưới tới hạn (Accelerator-DrivenSystem “ADS”) được coi là những ứng viên tốt nhất để chuyển hóa MA do chúng có thông lượng cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chuyển hóa các đồng vị MA cũng có thể được thực hiện trên lò nhiệt, dù cho việc này sẽ khó khăn hơn khi thực hiện trên lò nhanh hay ADS.

Một số lượng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng MA có thể được chuyển hóa trên lò nhiệt [1-3]. Với số lượng lớn đang hoạt động trên thế giới, việc sử dụng các lò phản ứng nhiệt để chuyển hóa MA sẽ là một bước chuyển tiếp để xử lý nhiên liệu đã qua sử dụng trong khi chờ đợi công nghệ của lò nhanh và ADS được kiểm chứng và nhân rộng. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhiên liệu chứa MA tới các đặc tính vật lý của vùng hoạt lò phản ứng nhiệt cần phải được thực hiện.

Đề tài đã hoàn thành các mục tiêu và nội dung đề xuất. Các sản phẩm của đề tài đã được hoàn thành tốt, một số nội dung đã vượt số lượng và chất lượng đã đăng ký.

Đề tài đã hỗ trợ đào tạo cho 01 Thạc sỹ bảo vệ thành công khóa luận tốt nghiệp tại Viện Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý Môi trường - Đại học Bách khoa Hà Nội. Đề tài đã đăng ký 01 bài báo trong nước, 01 bài báo quốc tế và 01 báo cáo hội nghị. Trong thời gian thực hiện, nhóm tác giả đã công bố 1 bài báo trong nước trên Tạp chí Nuclear Science and Technology, 1 bài báo quốc tế hạng ISI trên Tạp chí Science and Technology of Nuclear Installations và 2 báo cáo tại các Hội nghị Khoa học và Công nghệ Hạt nhân lần thứ XII năm 2017 và Hội nghị Khoa học và Công nghệ Hạt nhân cho các nghiên cứu viên trẻ lần thứ V năm 2018.

Đối tượng tính toán của đề tài là lò phản ứng VVER-1200/V491 được Liên bang Nga dự kiến xây dựng tại Việt Nam, các đặc trưng vật lý và an toàn của vùng hoạt lò phản ứng VVER-1200/V491 trong các trường hợp chưa và có nạp tải Actini hiếm đều được trình bày trong báo cáo. Ngoài ra, đề tài còn thực hiện việc tính toán đối với lò phản ứng VVER-1200/V392M. Đây là phiên bản lò phản ứng đã được đưa vào vận hành trên thực tế tại Nhà máy điện Hạt nhân Novovoronezh-II, do vậy các đặc trưng vật lý và an toàn của vùng hoạt lò phản ứng VVER-1200/V392M có thể được sử dụng để tham khảo và đối chiếu với các kết quả tính toán trên đối tượng lò phản ứng VVER-1200/V491.

Các đồng vị MA được nạp tải vào vùng hoạt theo bốn cách:

(a) MA được nạp tải vào vành xung quanh của tất cả các thanh nhiên liệu tại biên của mỗi bó nhiên liệu VVER-1200,

(b) MA chỉ được nạp tải vào vành xung quanh của 6 thanh nhiên liệu tại mỗi góc của mỗi bó nhiên liệu VVER-1200,

(c) Đối với lò phản ứng VVER-1200/V392M, vùng hoạt tại chu trình đầu tiên có ba loại bó nhiên liệu có sử dụng các thanh UGD, trong nghiên cứu này, MA được nạp tải thay thế cho một phần UO2-Gd2O3 trong thanh UGD tại ba loại bó nhiên liệu và

(d) Kết hợp các cách nạp tải từ (b) và (c).

Các kết quả chính của đề tài đã chỉ ra rằng, việc sử dụng lò phản ứng VVER-1200 để tiêu hủy các đồng vị Actini hiếm (MA) là có thể thực hiện được. Khi nạp tải các đồng vị MA vào trong các lò phản ứng, do MA hấp thụ notron nên thời gian vận hành của vùng hoạt lò phản ứng có chứa MA sẽ ngắn hơn trong trường hợp khi chưa nạp tải MA ~50 ngày. Tuy vậy, từ các kết quả từ bài báo quốc tế mà nhóm đã thực hiện, có thể dự đoán được rằng việc sử dụng phương pháp giảm hàm lượng Boron khi vận hành hoàn toàn có thể khắc phục nhược điểm về thời gian vận hành như đã kể trên.

Các tính toán về an toàn trong vùng hoạt chỉ ra rằng, việc nạp tải MA trong các thanh nhiên liệu ở góc của mỗi bó nhiên liệu sẽ không làm thay đổi vị trí cũng như hệ số công suất so với trường hợp khi chưa nạp tải MA; thậm chí, tại MOC và EOC, phân bố công suất trong các trường hợp nạp tải MA còn đều 26 hơn so với trường hợp khi chưa nạp tải MA. Đối với các hệ số phản hồi độ phản ứng theo nhiệt độ nhiên liệu cũng như chất làm chậm, các kết quả cũng chỉ ra rằng việc nạp tải MA không làm thay đổi các hệ số này trong các lò phản ứng VVER-1200. Các tính toán về tỉ suất notron trễ hiệu dụng cho thấy, trong các trường hợp nạp tải MA, tỉ suất notron trễ hiệu dụng cũng như thời gian sống trung bình của notron trễ gần như không thay đổi khi so sánh với trường hợp chưa nạp tải MA.

Các tính toán về hiệu suất tiêu hủy các đồng vị MA chỉ ra rằng, với việc nạp tải MA vào trong các thanh nhiên liệu ở 6 góc của mỗi bó nhiên liệu cùng hàm lượng 10%, sau thời gian vận hành 306 ngày, các lò phản ứng VVER-1200 có thể tiêu hủy lượng MA ~ 26 kg. Tuy nhiên, việc nạp tải MA cũng làm sinh ra thêm Plutoni trong lò phản ứng. Lượng 239Pu sinh ra sau thời gian 306 ngày ~ 8kg. Như vậy, để giảm nguy cơ tái sử dụng Plutonium làm vũ khí hạt nhân, việc nghiên cứu nhiên liệu MOX nhằm tiêu hủy Plutonium cũng cần thiết cần được đặt cùng bài toán tiêu hủy MA và sẽ nằm trong kế hoạch nghiên cứu trong tương lai của nhóm thực hiện đề tài này.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17514/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu tận dụng xỉ thải kim loại từ quá trình luyện kim loại màu và luyện thép làm xúc tác cho ozon để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ (28/11/2022)
Đánh giá tiềm năng thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần tiếp xúc với thực phẩm bằng sản phẩm giấy tại Việt Nam (28/11/2022)
Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 Nghiên cứu chọn lọc ổn định năng suất 04 dòng vịt chuyên thịt VCN/TP-CT1, VCN/TP-CT2, VCN/TP-CT3 và VCN/TP-CT4 (28/11/2022)
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng tại tỉnh Hà Giang (28/11/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thành công máy kiểm tra tính chất cơ lý cao su và vật liệu polyme (25/11/2022)
Vật liệu tạo màu kích thước nano ứng dụng trong ngành sản xuất sơn (25/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp dịch vụ hành chính công cấp tỉnh trên cơ sở nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) (25/11/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết việc sử dụng mã số, mã vạch (25/11/2022)
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ gánh nặng biến chứng, chẩn đoán, điều trị và dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân phẫu thuật (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển phương pháp kiểm tra không phá hủy để đánh giá các đặc trưng của vật liệu sử dụng tương tác của bức xạ photon (23/11/2022)
Nghiên cứu các giải pháp cải thiện tính năng của bùn cát biển nạo vét ứng dụng trong xây dựng công trình (23/11/2022)
Chiết xuất thành công các hoạt chất có tác dụng chống loãng xương từ cây rừng (23/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình chiết, tách silymarin từ hạt cây cúc gai (Silybum marianum) làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng (23/11/2022)
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật thú y (23/11/2022)
Nghiên cứu và phát triển công nghệ tăng cường thực tế trên thiết bị di dộng - Ứng dụng sản xuất phần mềm hỗ trợ giáo dục cho học sinh mầm non, tiểu học và TCHS (23/11/2022)
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc (23/11/2022)
Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất (bis-naphthalyl) azacrown ether (23/11/2022)
Nghiên cứu gắn bạc nano lên titandioxit bằng phương pháp chiếu xạ chùm tia điện tử làm xúc tác quang hóa xử lý phân hủy chất hữu cơ trong nước (23/11/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh (23/11/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống dừa Sáp (Makapuno coconut) bằng công nghệ nuôi cấy cứu phôi trên quy mô công nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình điều trị bệnh vảy nến thông thường thể vừa và nặng bằng tia cực tím dải hẹp (UVB - 311nm) tại Việt Nam (21/11/2022)
Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp (21/11/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo bi sinh học độn hốc mắt từ vật liệu polyether ether ketone (PEEK) dùng trong y tế (17/11/2022)
Phát triển cổng thông tin điện tử NeuroDrug Design ứng dụng trong thiết kế và tổng hợp các phối tử dùng trong chẩn đoán hình ảnh não bộ và dẫn truyền thuốc cho các bệnh thoái hoá thần kinh (17/11/2022)
Nghiên cứu chuyển hóa dầu cá phế thải và glycerol thô thành nhựa phân hủy sinh học (17/11/2022)
Nghiên cứu phân loại học và đánh giá khả năng sử dụng, vai trò dịch tễ của các loài bọ xít (Heteroptera: Reduviidae) ở Việt Nam (16/11/2022)
Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến (Scan ảnh rễ) trong nghiên cứu bón phân tối ưu cho rừng trồng Keo tại Việt Nam (16/11/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sản xuất tỏi đen ở các tỉnh phía Bắc (16/11/2022)
Nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ của chất hoạt động bề mặt, polyme mang điện tích trên ôxit kim loại và đá ong với điện tích bề mặt khác nhau và ứng dụng để xử lý chất hữu cơ gây ô nhiễm (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc quần thể vi sinh vật dạ cỏ của bò trong những điều kiện nuôi dưỡng khác nhau (16/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo thiết bị đo liều nơtron nhằm kiểm soát liều lượng bức xạ nơtron được sử dụng trong công nghiệp (16/11/2022)
Nghiên cứu cấu trúc và tính chất của siêu vật liệu ứng dụng trong thiết kế anten và bộ hấp thụ sóng điện từ (16/11/2022)
Nghiên cứu xây dựng kỹ thuật phân tích sai hình nhiễm sắc thể do tổn thương phân tử ADN ở pha G2 nhằm đánh giá độ nhạy cảm phóng xạ ở nhóm bệnh nhân ung thư vú trước xạ trị (16/11/2022)
Nghiên cứu khả năng điều trị nám da của cao chiết lá tía tô (14/11/2022)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tử của plasmid mang gen beta- lactamase phổ rộng (ESBL) của vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh có nguy cơ lây nhiễm giữa người và lợn (14/11/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống chuối có năng suất cao, chất lượng tốt chống chịu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu ở các tỉnh phía Bắc (14/11/2022)
Xác định vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá của ốc nước ngọt tại một số tỉnh miền Bắc và Trung Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng công nghệ bức xạ chùm tia điện tử trong xử lý chất thải công nghiệp nguy hại (14/11/2022)
Hợp tác nghiên cứu áp dụng công nghệ chip ADN chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao kháng thuốc ở Việt Nam, Lào và Campuchia (14/11/2022)
Sử dụng phương pháp Metagenetic (nghiên cứu hệ gen) trong nghiên cứu đa dạng tuyến trùng tự do ở Việt Nam (14/11/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất hoa chất lượng cao tại thành phố Cần Thơ (14/11/2022)
Nghiên cứu kết hợp các biện pháp xử lý và chiếu xạ để kiểm dịch vi khuẩn gây bệnh thối mục quả và nấm gây bệnh đốm đen trên vỏ quả có múi (14/11/2022)
Chế tạo cảm biến miễn dịch lai hóa dựa trên cơ chế ghi nhận song song điện hóa - cộng hưởng plasmon bề mặt để xác định một số chất ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước (14/11/2022)
Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học để phân hủy nhựa cây trong dăm mảnh gỗ keo, bạch đàn làm nguyên liệu sản xuất bột giấy thân thiện môi trường tại Việt Nam (10/11/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn gen Bạch đàn H1 và TTKT7 phục vụ trồng rừng cây nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất mực in nano bạc dùng trong chế tạo linh kiện vi điện tử và hệ thống cảm biến nano đánh giá chất lượng nước ao nuôi trồng thủy hải sản (10/11/2022)
Nghiên cứu tạo giá thể ruột bầu cho sản xuất cây giống nguyên liệu giấy (10/11/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu lọc dạng hạt trên cơ sở điatomit và vỏ trấu sử dụng lọc nước cho nhà máy nước sinh hoạt (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ thu hồi các nguyên tố có ích trong xỉ đúc đồng thau (09/11/2022)
Nghiên cứu công nghệ tuyển nâng cao thực thu Cr2O3 cấp hạt mịn, mỏ crômit Cổ Định, Thanh Hóa có sử dụng thiết bị tuyển ly tâm Knelson (09/11/2022)
Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ viên nén chuyên dùng cho cây lúa quy mô công nghiệp.
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 3.707
Hôm nay 6.257
Hôm qua 8.719
Tất cả 7.649.658
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!