Thứ Sáu ngày 30/9/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 15/8/2022

Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1
Cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm do các nhóm virus cúm A (Influenzavirus A), họ Orthomyxoviridae gây nên. Kể từ năm 2003, virus cúm gia cầm độc lực cao (HPAIV) của phân nhóm H5N1 đã tiếp tục biến đổi di truyền và hiếm khi lây nhiễm ở người. Tính đến tháng 1 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã báo cáo có 861 ca mắc cúm gia cầm ở người, với 455 trường hợp tử vong. Tỷ lệ tử vong cao ở người, và khả năng truyền khí dung ở động vật có vú làm tăng nguy cơ đại dịch toàn cầu. Hiện nay, tiêm vacxin vẫn là chiến lược chính để phòng ngừa và kiểm soát đại dịch cúm. Để bảo vệ dân số chống lại đại dịch, chủng virus vacxin phải phù hợp với chủng mới xuất hiện.
Giống gốc virut A/H5N1 clade 1.1 (IBT RG-01)

Ở Việt Nam, vacxin cúm gia cầm được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đã góp phần làm giảm số gia cầm mắc bệnh, và giảm thiệt hại kinh tế do dịch cúm gia cầm gây ra. Tuy nhiên vacxin cúm A/H5N1 cho gia cầm sản xuất trong nước chủ yếu sử dụng chủng virus gốc tái tổ hợp lắp ráp bằng di truyền ngược có nguồn gốc từ nước ngoài. Sự phụ thuộc vào chủng giống nhập ngoại khiến công tác sản xuất vacxin cúm gia cầm ở Việt Nam thiếu tính chủ động và gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi các chủng cúm lưu hành trong nước có thể mang tính kháng nguyên đặc thù cho vùng lãnh thổ, hệ gen luôn biến đổi dẫn đến vacxin tạo ra trước đó có thể không đạt hiệu quả bảo hộ cao với biến chủng virus mới xuất hiện.

Trước thực tiễn nêu trên, nhóm nghiên cứu đến từ Viện Công nghệ sinh học, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, do TS. Nguyễn Trung Nam dẫn đầu, đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1” với mục tiêu:

(1) Tạo ra được giống virus vacxin cúm gia cầm A/H5N1 bằng công nghệ di truyền ngược trên cơ sở các gen HA và NA phân lập từ các biến chủng virus mới xuất hiện tại Việt Nam;

(2) Làm chủ được qui trình công nghệ di truyền ngược để trong một thời gian ngắn (6-9 tháng) có thể tạo ra được giống virus vacxin cúm gia cầm A/H5N1 trên cơ sở biến chủng mới xuất hiện tại Việt Nam.

Trải qua quá trình nghiên cứu từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2020, Đề tài đã đạt được những kết quả chính sau đây:

(1) Đã thu thập và giải trình tự toàn bộ gen HA (H5) của 12 chủng virus cúm gia cầm, làm số liệu cho quá trình phân tích phả hệ. Dựa trên trình tự nucleotide và amino acid của gen H5 của các chủng dự kiến làm vacxin và các chủng cường độc giai đoạn 2010-2017, cho thấy, tuy virus cúm gia cầm có những biến đổi nhất định trong gen HA (H5) nhưng ở những vị trí amino acid trọng yếu vẫn không có thay đổi lớn, đặc biệt bảo tồn ở vị trí bám dính thụ thể, vị trí kháng nguyên (epitope) và một số vị trí khác. Kháng nguyên H5 của các chủng mới có khả năng gây miễn dịch để phòng chống các chủng trước và sau đó.

(2) Đã xác lập được mối quan hệ nguồn gốc phả hệ giữa các chủng cúm A/H5N1 dựa trên thành phần nucleotide gen H5. Đã phân tích và chỉ ra đặc tính tái tái tổ hợp gen kháng nguyên hemagglutinin của virus cúm A phân type H5 với các type khác theo từng giai đoạn và từng vùng địa lý. Sự khác biệt về nguồn gốc phả hệ giữa các chủng trong năm 2017 cho thấy mức độ tiến hóa và biến đổi của virus cúm ở gia cầm càng ngày càng trở nên đa dạng và có sự lưu thông nhanh chóng.

(3) Đã làm chủ được công nghệ di truyền ngược sử dụng 6 plasmid pHW2000 chứa 6 phân đoạn gen khung (PB2, PB1, PA, NP, M và NS) nguồn gốc từ virus A/PR/8/34 và 2 plasmid pHW2000 chứa kháng nguyên H5 và N1 của hai clade virus HPAI H5N1 là clade 1.1 và clade 2.3.2.1c biến nạp vào tế bào 293T, tạo thành công hai chủng cúm A/H5N1 tái tổ hợp clade 1.1 (IBTRG-01) và clade 2.3.2.1c (IBTRG-02). Cả hai giống gốc đều có hiệu giá HA ≥ 1: 1024, tính kháng nguyên thể hiện sự ổn định di truyền (trình tự gen HA và NA không thay đổi) khi nhân trong trứng đến thế hệ P5.

(4) Cả hai giống gốc đều không bị tạp nhiễm với vi khuẩn, nấm mốc, Mycoplasma và virus Newcastle (NDV). Giống gốc IBTRG-01 có hiệu giá virus đạt 108EID50/ml. Giống gốc IBTRG-02 có hiệu giá virus đạt 108EID50/ml. Hiệu giá kháng thể HI của giống gốc IBTRG-01 sau gây miễn dịch 14 ngày và 28 ngày tương ứng là 5,45log2 và 6,05log2. Hiệu giá kháng thể HI của giống gốc IBTRG-02 sau gây miễn dịch 14 ngày và 28 ngày tương ứng là 6,42log2 và 6,92log2. Kết quả thẩm định giống của Cục Thú y cho thấy, hiệu giá kháng thể HI của giống gốc IBTRG-01 sau gây miễn dịch 21 ngày đạt 4,65log2 và hiệu giá kháng thể HI của giống gốc IBTRG-02 sau gây miễn dịch 21 ngày đạt 4,9log2 (Hiệu giá kháng thể trung bình đạt tiêu chuẩn theo TCVN 8685-9:2014 ≥ 4log2). Giống gốc IBTRG-01 và IBTRG-02 được thử nghiệm có khả năng kích thích sinh sinh đáp ứng miễn dịch tạo kháng thể đặc hiệu và có khả năng bảo hộ cao (đạt 91,6%) với các chủng virus H5N1 cường độc thuộc clade 1.1 và 2.3.2.1c.

(5) Kết quả giải trình tự gen HA và NA của các giống gốc cho thấy, giống IBTRG-01 có tỉ lệ đồng nhất về nucleotide và amino acid gen HA và NA là 100% với clade 1.1. Giống IBTRG-02 có tỉ lệ đồng nhất về nucleodie và amino acid gen HA và NA là 100% với clade 2.3.2.1c. Giống IBTRG-01 có tỉ lệ đồng nhất về nucleotide và amino acid gen HA và NA cao so với các chủng thuộc clade 1.1 phân lập từ năm 2009-2016 (97%-99% với gen HA; 98%-99,5% với gen NA) và có tỉ lệ tương đồng thấp hơn so với các chủng phân lập từ năm 2017-2019 (86%-95% với gen HA; 90%-97% với gen NA). Chủng IBTRG-02 có tỉ lệ đồng nhất về nucleotide và amino acid gen HA và NA cao so với các chủng phân lập năm 2014-2015 (99,1%-99,5%) và tỉ lệ tương đồng thấp hơn so với các chủng phân lập năm 2017-2019 (96%-97%).

Từ những kết quả đã đạt được, nhóm thực hiện đề tài đã đề xuất hai kiến nghị sau đây:

(1) Phát triển giống gốc IBTRG-01 và IBTRG-02 thành các chủng vacxin phòng chống cúm A/H5N1 clade 1.1 và 2.3.2.1c;

(2) Áp dụng công nghệ di truyền ngược để tạo ra các giống gốc A/H5N6 và A/H9N2 phòng chống các biến chủng mới đang xuất hiện tại Việt Nam.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17420/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu công nghệ ép đóng bánh sắt xốp làm nguyên liệu cho các lò luyện thép (28/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên (28/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống cánh khuấy chống đóng bám thay thế cánh khuấy truyền thống (28/9/2022)
Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm công nghệ chống thấm hồ thải quặng đuôi ở các nhà máy tuyển khoáng sử dụng màng phun áp lực thay thế màng chống thấm HDPE (27/9/2022)
Nghiên cứu chế tạo hệ thống thải tro xỉ nhà máy nhiệt điện đốt than (27/9/2022)
Nghiên cứu khả năng bảo vệ da của cao chiết hoa thanh long (22/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân và sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng I - 131 (22/9/2022)
Nghiên cứu bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (22/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo và đánh giá các dòng xoan ta chuyển gen sinh trưởng nhanh có triển vọng (22/9/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng rau quả của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (22/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (20/9/2022)
Chiết tách thành công lycopene từ quả gấc (20/9/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả thực hiện các chương trình và dự án phát triển năng lực của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) tại Việt Nam (20/9/2022)
Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó (19/9/2022)
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ (19/9/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị giám sát để điều khiển chế độ sấy lúa tối ưu cho máy sấy tháp (19/9/2022)
Nghiên cứu điều chế thử nghiệm Silic tinh thể dạng nano bằng phương pháp nhiệt kim (15/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy (13/9/2022)
Ứng dụng công nghệ trong xây dựng hệ thống thấu hiểu khách hàng và lắng nghe mạng xã hội (12/9/2022)
Lưu giữ và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy (12/9/2022)
Thị trường đích, phương thức quản trị và nâng cấp chuỗi giá trị: trường hợp ngành hàng gạo và thủy sản ở Việt Nam (12/9/2022)
Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam (12/9/2022)
Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp nhà màng trong canh tác dưa lưới tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (09/9/2022)
Nghiên cứu, đề xuất và áp dụng thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (09/9/2022)
Công nghệ chiết xuất và thử nghiệm sản xuất viên nang cứng hỗ trợ điều trị tiểu đường từ loài khổ qua, thìa canh và địa hoàng (08/9/2022)
Sản xuất thử nghiệm premix khoáng, premix vitamin cho chăn nuôi (07/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật xử lý, sơ chế, bảo quản một số loại quả chủ lực (chuối, sầu riêng, bơ) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu (07/9/2022)
Nâng cao năng lực, xây dựng và kiểm nghiệm phương pháp chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam (06/9/2022)
Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng nguồn lợi và khả năng khai thác, nuôi trồng các loài rong biển kinh tế tại các đảo tiền tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (06/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai chịu hạn, năng suất cao phục vụ chuyển đổi cây trồng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (31/8/2022)
Nghiên cứu tuyển than cám 0,5-8 mm vùng Vàng Danh - Uông Bí trên thiết bị tuyển nổi trọng lực dạng hydrofloat năng suất 1,0 t/giờ (31/8/2022)
Dự án AQUAMN triển khai Hệ thống quan trắc nước ngập mặn ở Cà Mau (29/8/2022)
Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491) (25/8/2022)
Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường (25/8/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển nghề nuôi ong mật và chế biến các sản phẩm ngành ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc (25/8/2022)
Nghiên cứu viên nang bảo vệ gan từ bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên (25/8/2022)
Ứng dụng enzyme hoạt hoá sản xuất rượu táo mèo Tây Bắc (23/8/2022)
Ứng dụng chế phẩm Lactoferrin vào sản xuất thực phẩm chức năng (22/8/2022)
Đa dạng sản phẩm từ cây sâm Việt Nam (22/8/2022)
Sản xuất thử nghiệm giống sắn KM7 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo lũ, lụt và hạn hán theo thời gian thực trên nền tảng WebGIS (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: “Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị”

Thông báo Kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: "Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị"

Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Phát triển KH&CN hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 796
Hôm nay 573
Hôm qua 4.702
Tất cả 6.586.654
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!