Thứ Năm ngày 29/9/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Ba, ngày 09/8/2022

Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn
Trong những năm gần đây nghề nuôi cua lột phát triển mạnh ở một số quốc gia Đông Nam Á như Myanma, Thái Lan, Malaixia v.v… Tuy nhiên nguồn cua nguyên liệu hoàn toàn dựa vào khai thác từ tự nhiên, nguồn thức ăn sử dụng để nuôi cua lột là cá tạp (cá và giáp xác nhỏ) vì thế tính bất ổn định thể hiện rất rõ như: Nguồn cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột không ổn định; thức ăn sử dụng nuôi cua lột không đảm bảo về chất lượng; năng suất và tỷ lệ cua lột trong một đợt sản xuất không ổn định v.v…

Ở Việt Nam, nghề nuôi cua lột tuy có phát triển nhưng thiếu tính bền vững vì chưa kết nối được chuỗi sản xuất gồm 3 công đoạn:

- Sản xuất cua giống

- Nuôi cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột (cua có khối lượng từ 70 g/con đến 100 g/con)

- Thị trường xuất khẩu cua lột; hơn nữa thức ăn sử dụng nuôi cua lột vẫn là nguồn cá tạp, nguồn này có tính không ổn định về số lượng cũng như chất lượng.

Nhằm giải quyết những vấn đề tồn đọng của nghề nuôi cua lột hiện nay, cần phải nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất thức ăn cua công nghiệp và thiết lập hệ thống nuôi cua lột có kết nối giữa các công đoạn: sản xuất cua giống, nuôi cua nguyên liệu, sản xuất thức ăn cua công nghiệp, nuôi và chế biến sản phẩm cua lột, xuất khẩu sản phẩm cua lột. Tất cả các công đoạn nói trên nếu được phát triển đồng bộ sẽ là tiền đề để phát triển nghề nuôi cua lột bền vững.

Cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu Nuôi trổng Thủy sản III cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn” nhằm đạt được mục tiêu: “Xây dựng được công thức thức ăn có tỷ lệ phối trộn phức hợp enzyme, cholesterol, chitosan và chất dẫn dụ phù hợp, hiệu quả nhằm kích thích cua lột đồng loạt, rút ngắn chu kì lột vỏ” là hướng đi có tính đột phá, góp phần phát triển nghề nuôi cua lột bền vững ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, các loài cua xanh (Scylla sp.) là một trong những đối tượng nuôi quan trọng. Sản lượng cua nuôi của các nước châu Á và châu Phi đạt tới 138.000 tấn với trị giá xấp xỉ 377 triệu đô la Mỹ trong năm 2012 (FAO, 2014). Cua lột là sản phẩm có giá trị gia tăng của cua, cua cứng vỏ được nuôi trong hệ thống có kiểm soát để thu hoạch những cá thể vừa mới lột vỏ. Cua lột là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, hàm lượng các vi chất thiết yếu cao; canxi hữu cơ, kẽm, sắt, photpho, đặc biệt có các acid amin quý như lysine, proline, arginine, histadine và các loại vitamin D, A, C, E giúp hỗ trợ phòng chống bệnh loãng xương ở người già, cấu tạo xương vững chắc ở trẻ em, hồi phục sức khỏe, tăng cường hệ miễn dịch. Thị trường tiêu thụ cua lột hiện đang phát triển rộng ở Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, Canada, Đài Loan, Úc v.v… là cơ hội để nghề sản xuất cua lột phát triển.

Mặc dầu nghề nuôi cua lột phát triển mạnh ở một số quốc gia Đông Nam Á như Myanma, Thái Lan, Malaixia v.v… Tuy nhiên nguồn cua nguyên liệu hoàn toàn dựa vào khai thác từ tự nhiên, nguồn thức ăn sử dụng để nuôi cua lột là cá tạp (cá và giáp xác nhỏ) vì thế tính bất ổn định thể hiện rất rõ như: nguồn cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột không ổn định; thức ăn sử dụng nuôi cua lột không đảm bảo về chất lượng; năng suất và tỷ lệ cua lột trong một đợt sản xuất không ổn định v.v… Ở Việt Nam, nghề nuôi cua lột tuy có phát triển nhưng thiếu tính bền vững vì chưa kết nối được chuỗi sản xuất gồm 3 công đoạn:

- Sản xuất cua giống

- Nuôi cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột (cua có khối lượng từ 70 g/con đến 100 g/con)

- Thị trường xuất khẩu cua lột; hơn nữa thức ăn sử dụng nuôi cua lột vẫn là nguồn cá tạp, nguồn này có tính không ổn định về số lượng cũng như chất lượng.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Kết quả khảo sát, lựa chọn nguyên liệu có sẵn ở Việt Nam đã thiết lập được công thức thức ăn nền (CNT) có hàm lượng dinh dưỡng protein, lipid, khoáng, năng lượng tương ứng là 45,2%, 7,7%, 22,2% và 16,4 Mj/kg thức ăn; đáp ứng được yêu cầu tăng trọng và lột vỏ của cua. Cua sử dụng thức ăn nền đạt tỷ lệ sống tương đương với sử dụng thức ăn tươi nhưng tỷ lệ lột vỏ (31,3%) và tỷ lệ tăng về khối lượng sau lột vỏ (45,8%) thấp hơn so với cua sử dụng thức ăn tươi với giá trị tương ứng là 35,1% và 54,3%).

Công thức thức ăn nền (CTN) được bổ sung: 2% dịch cá thủy phân; 0,2% chitosan phân tử lượng 50 kdal; 1,5 U phức hợp enzyme protease và amylase/100 mg thức ăn; 0,1% cholesterol là công thức (CTN.D.C.E.Ch) sử dụng để sản xuất thức ăn nuôi cua lột trong hệ thống bể tuần hoàn có ứng dụng lọc sinh học. Thức ăn được sản xuất theo công thức CTN.D.C.E.Ch có thành phần dinh dưỡng cơ bản protein, lipid, khoáng tổng số và năng lượng tương ứng đạt 49%; 11,8%; 22,1% và 19,2 Mj/kg; độ bền từ 2,5h -3h. Thức ăn này rất phù hợp để nuôi cua lột,.kết quả nuôi cua lột bằng loại thức ăn do đề tài sản xuất đạt tỷ lệ sống 85 - 92%, tỷ lệ cua lột vỏ đồng loạt 86% đến 90%, tỷ lệ tăng khối lượng sau khi lột vỏ đạt 57,2%-61,3%, FCR từ 0,67 đến 0,70.

So sánh với thức ăn truyền thống (cá tạp) để nuôi cua lột, cua sử dụng thức ăn viên do đề tài sản xuất theo công thức CTN.D.C.E.Ch cho tỷ lệ cua lột vỏ đồng loạt cao vượt trội so với thức ăn tươi, gấp 2,8 lần và tương đương về tỷ lệ sống cũng như tỷ lệ tăng trọng sau khi lột vỏ so với trọng lượng cua ban đầu.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17296/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Đ.T.V (NASATI)

Trong những năm gần đây nghề nuôi cua lột phát triển mạnh ở một số quốc gia Đông Nam Á như Myanma, Thái Lan, Malaixia v.v… Tuy nhiên nguồn cua nguyên liệu hoàn toàn dựa vào khai thác từ tự nhiên, nguồn thức ăn sử dụng để nuôi cua lột là cá tạp (cá và giáp xác nhỏ) vì thế tính bất ổn định thể hiện rất rõ như: Nguồn cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột không ổn định; thức ăn sử dụng nuôi cua lột không đảm bảo về chất lượng; năng suất và tỷ lệ cua lột trong một đợt sản xuất không ổn định v.v…

Ở Việt Nam, nghề nuôi cua lột tuy có phát triển nhưng thiếu tính bền vững vì chưa kết nối được chuỗi sản xuất gồm 3 công đoạn:

- Sản xuất cua giống

- Nuôi cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột (cua có khối lượng từ 70 g/con đến 100 g/con)

- Thị trường xuất khẩu cua lột; hơn nữa thức ăn sử dụng nuôi cua lột vẫn là nguồn cá tạp, nguồn này có tính không ổn định về số lượng cũng như chất lượng.

Nhằm giải quyết những vấn đề tồn đọng của nghề nuôi cua lột hiện nay, cần phải nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất thức ăn cua công nghiệp và thiết lập hệ thống nuôi cua lột có kết nối giữa các công đoạn: sản xuất cua giống, nuôi cua nguyên liệu, sản xuất thức ăn cua công nghiệp, nuôi và chế biến sản phẩm cua lột, xuất khẩu sản phẩm cua lột. Tất cả các công đoạn nói trên nếu được phát triển đồng bộ sẽ là tiền đề để phát triển nghề nuôi cua lột bền vững.

Cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu Nuôi trổng Thủy sản III cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn” nhằm đạt được mục tiêu: “Xây dựng được công thức thức ăn có tỷ lệ phối trộn phức hợp enzyme, cholesterol, chitosan và chất dẫn dụ phù hợp, hiệu quả nhằm kích thích cua lột đồng loạt, rút ngắn chu kì lột vỏ” là hướng đi có tính đột phá, góp phần phát triển nghề nuôi cua lột bền vững ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, các loài cua xanh (Scylla sp.) là một trong những đối tượng nuôi quan trọng. Sản lượng cua nuôi của các nước châu Á và châu Phi đạt tới 138.000 tấn với trị giá xấp xỉ 377 triệu đô la Mỹ trong năm 2012 (FAO, 2014). Cua lột là sản phẩm có giá trị gia tăng của cua, cua cứng vỏ được nuôi trong hệ thống có kiểm soát để thu hoạch những cá thể vừa mới lột vỏ. Cua lột là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, hàm lượng các vi chất thiết yếu cao; canxi hữu cơ, kẽm, sắt, photpho, đặc biệt có các acid amin quý như lysine, proline, arginine, histadine và các loại vitamin D, A, C, E giúp hỗ trợ phòng chống bệnh loãng xương ở người già, cấu tạo xương vững chắc ở trẻ em, hồi phục sức khỏe, tăng cường hệ miễn dịch. Thị trường tiêu thụ cua lột hiện đang phát triển rộng ở Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, Canada, Đài Loan, Úc v.v… là cơ hội để nghề sản xuất cua lột phát triển.

Mặc dầu nghề nuôi cua lột phát triển mạnh ở một số quốc gia Đông Nam Á như Myanma, Thái Lan, Malaixia v.v… Tuy nhiên nguồn cua nguyên liệu hoàn toàn dựa vào khai thác từ tự nhiên, nguồn thức ăn sử dụng để nuôi cua lột là cá tạp (cá và giáp xác nhỏ) vì thế tính bất ổn định thể hiện rất rõ như: nguồn cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột không ổn định; thức ăn sử dụng nuôi cua lột không đảm bảo về chất lượng; năng suất và tỷ lệ cua lột trong một đợt sản xuất không ổn định v.v… Ở Việt Nam, nghề nuôi cua lột tuy có phát triển nhưng thiếu tính bền vững vì chưa kết nối được chuỗi sản xuất gồm 3 công đoạn:

- Sản xuất cua giống

- Nuôi cua nguyên liệu cung cấp để nuôi cua lột (cua có khối lượng từ 70 g/con đến 100 g/con)

- Thị trường xuất khẩu cua lột; hơn nữa thức ăn sử dụng nuôi cua lột vẫn là nguồn cá tạp, nguồn này có tính không ổn định về số lượng cũng như chất lượng.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Kết quả khảo sát, lựa chọn nguyên liệu có sẵn ở Việt Nam đã thiết lập được công thức thức ăn nền (CNT) có hàm lượng dinh dưỡng protein, lipid, khoáng, năng lượng tương ứng là 45,2%, 7,7%, 22,2% và 16,4 Mj/kg thức ăn; đáp ứng được yêu cầu tăng trọng và lột vỏ của cua. Cua sử dụng thức ăn nền đạt tỷ lệ sống tương đương với sử dụng thức ăn tươi nhưng tỷ lệ lột vỏ (31,3%) và tỷ lệ tăng về khối lượng sau lột vỏ (45,8%) thấp hơn so với cua sử dụng thức ăn tươi với giá trị tương ứng là 35,1% và 54,3%).

Công thức thức ăn nền (CTN) được bổ sung: 2% dịch cá thủy phân; 0,2% chitosan phân tử lượng 50 kdal; 1,5 U phức hợp enzyme protease và amylase/100 mg thức ăn; 0,1% cholesterol là công thức (CTN.D.C.E.Ch) sử dụng để sản xuất thức ăn nuôi cua lột trong hệ thống bể tuần hoàn có ứng dụng lọc sinh học. Thức ăn được sản xuất theo công thức CTN.D.C.E.Ch có thành phần dinh dưỡng cơ bản protein, lipid, khoáng tổng số và năng lượng tương ứng đạt 49%; 11,8%; 22,1% và 19,2 Mj/kg; độ bền từ 2,5h -3h. Thức ăn này rất phù hợp để nuôi cua lột,.kết quả nuôi cua lột bằng loại thức ăn do đề tài sản xuất đạt tỷ lệ sống 85 - 92%, tỷ lệ cua lột vỏ đồng loạt 86% đến 90%, tỷ lệ tăng khối lượng sau khi lột vỏ đạt 57,2%-61,3%, FCR từ 0,67 đến 0,70.

So sánh với thức ăn truyền thống (cá tạp) để nuôi cua lột, cua sử dụng thức ăn viên do đề tài sản xuất theo công thức CTN.D.C.E.Ch cho tỷ lệ cua lột vỏ đồng loạt cao vượt trội so với thức ăn tươi, gấp 2,8 lần và tương đương về tỷ lệ sống cũng như tỷ lệ tăng trọng sau khi lột vỏ so với trọng lượng cua ban đầu.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17296/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu công nghệ ép đóng bánh sắt xốp làm nguyên liệu cho các lò luyện thép (28/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên (28/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống cánh khuấy chống đóng bám thay thế cánh khuấy truyền thống (28/9/2022)
Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm công nghệ chống thấm hồ thải quặng đuôi ở các nhà máy tuyển khoáng sử dụng màng phun áp lực thay thế màng chống thấm HDPE (27/9/2022)
Nghiên cứu chế tạo hệ thống thải tro xỉ nhà máy nhiệt điện đốt than (27/9/2022)
Nghiên cứu khả năng bảo vệ da của cao chiết hoa thanh long (22/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân và sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng I - 131 (22/9/2022)
Nghiên cứu bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (22/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo và đánh giá các dòng xoan ta chuyển gen sinh trưởng nhanh có triển vọng (22/9/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng rau quả của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (22/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (20/9/2022)
Chiết tách thành công lycopene từ quả gấc (20/9/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả thực hiện các chương trình và dự án phát triển năng lực của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) tại Việt Nam (20/9/2022)
Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó (19/9/2022)
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ (19/9/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị giám sát để điều khiển chế độ sấy lúa tối ưu cho máy sấy tháp (19/9/2022)
Nghiên cứu điều chế thử nghiệm Silic tinh thể dạng nano bằng phương pháp nhiệt kim (15/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy (13/9/2022)
Ứng dụng công nghệ trong xây dựng hệ thống thấu hiểu khách hàng và lắng nghe mạng xã hội (12/9/2022)
Lưu giữ và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy (12/9/2022)
Thị trường đích, phương thức quản trị và nâng cấp chuỗi giá trị: trường hợp ngành hàng gạo và thủy sản ở Việt Nam (12/9/2022)
Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam (12/9/2022)
Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp nhà màng trong canh tác dưa lưới tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (09/9/2022)
Nghiên cứu, đề xuất và áp dụng thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (09/9/2022)
Công nghệ chiết xuất và thử nghiệm sản xuất viên nang cứng hỗ trợ điều trị tiểu đường từ loài khổ qua, thìa canh và địa hoàng (08/9/2022)
Sản xuất thử nghiệm premix khoáng, premix vitamin cho chăn nuôi (07/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật xử lý, sơ chế, bảo quản một số loại quả chủ lực (chuối, sầu riêng, bơ) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu (07/9/2022)
Nâng cao năng lực, xây dựng và kiểm nghiệm phương pháp chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam (06/9/2022)
Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng nguồn lợi và khả năng khai thác, nuôi trồng các loài rong biển kinh tế tại các đảo tiền tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (06/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai chịu hạn, năng suất cao phục vụ chuyển đổi cây trồng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (31/8/2022)
Nghiên cứu tuyển than cám 0,5-8 mm vùng Vàng Danh - Uông Bí trên thiết bị tuyển nổi trọng lực dạng hydrofloat năng suất 1,0 t/giờ (31/8/2022)
Dự án AQUAMN triển khai Hệ thống quan trắc nước ngập mặn ở Cà Mau (29/8/2022)
Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491) (25/8/2022)
Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường (25/8/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển nghề nuôi ong mật và chế biến các sản phẩm ngành ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc (25/8/2022)
Nghiên cứu viên nang bảo vệ gan từ bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên (25/8/2022)
Ứng dụng enzyme hoạt hoá sản xuất rượu táo mèo Tây Bắc (23/8/2022)
Ứng dụng chế phẩm Lactoferrin vào sản xuất thực phẩm chức năng (22/8/2022)
Đa dạng sản phẩm từ cây sâm Việt Nam (22/8/2022)
Sản xuất thử nghiệm giống sắn KM7 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo lũ, lụt và hạn hán theo thời gian thực trên nền tảng WebGIS (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: “Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị”

Thông báo Kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: "Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị"

Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Phát triển KH&CN hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 670
Hôm nay 1.915
Hôm qua 6.977
Tất cả 6.583.294
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!