Thứ Năm ngày 29/9/2022 Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Khoa học và Công nghệ Quảng Trị Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 03/8/2022

Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam
Đàn bò của nước ta năm 2001 có 3,8997 triệu con. Số lượng đàn bò tăng liên tục, đến năm 2007 đạt 6,7247 triệu con, từ năm 2010 cho đến năm 2013, đàn bò Việt Nam liên tục giảm, đến năm 2014 đàn bò là 5,234 triệu con tăng lên và đạt 5,803 triệu con năm 2018 (Tổng cục thống kê, 2018). Sự tăng này đã ghi dấu ấn trong chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020 được Chính Phủ ký phê duyệt ngày 16/01/2008 (Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg). Trong chiến lược đã đề ra mục tiêu tăng trưởng trung bình hàng năm của đàn bò là 4,8% và đạt 12,5 triệu con, trong đó tỷ lệ bò lai 50% ở năm 2020.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra thì công tác cải tạo giống là tạo bò lai theo hướng thịt và tăng khả năng cung cấp thịt cho thị trường trong nước là điều tất yếu. Lai tạo theo hướng Zebu hóa, tạo bò lai phát triển theo hướng thịt là xu hướng nâng cao tầm vóc và khả năng cho thịt của đàn bò Việt Nam. Thụ tinh nhân tạo (TTNT) là biện pháp kỹ thuật tiên tiến, vô cùng quan trọng và hữu hiệu trong cải tiến phát huy cao tiềm năng di truyền của những bò đực giống cao sản quý giá. Theo di truyền mỗi cá thể bò bố và bò mẹ sẽ truyền nguồn gen cho thế hệ sau là 50% từ bố và 50% từ mẹ. Một bò cái tốt, một năm chỉ có thể cho ra đời 01 bê nhƣng một bò đực giống tốt khai thác sản xuất tinh đông lạnh và thụ tinh nhân tạo cho bò cái động dục một năm có thể cho ra đời hàng ngàn bê con. Để có kết quả TTNT được tốt đầu tiên chúng ta phải có được nguồn tinh đông lạnh tốt, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Muốn đảm bảo được số lượng, chất lượng tinh đông lạnh bên cạnh việc có được những bò đực giống cao sản, ưu tú thì phải có được chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng…, đặc biệt là khẩu phần thức ăn thích hợp cho bò đực giống mới có thể phát huy tối đa được tiềm năng di truyền của những con đực giống cao sản.

Ở nước ta hiện nay chưa có các nghiên cứu về dinh dưỡng cho bò đực giống Brahman. Các nghiên cứu trên đối tượng bò đực giống ở Việt Nam chủ yếu đánh giá về năng suất, chất lượng tinh, ảnh hưởng của lứa tuổi, mùa vụ đến năng 5 suất, chất lượng tinh…. Các nghiên cứu về dinh dưỡng cho bò thịt chủ yếu theo hướng nuôi vỗ béo và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi. Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sản xuất tinh hiện mới có những kết quả bước đầu trên đối tượng bò đực giống Holstein Friesian (HF). Qua nghiên cứu cho thấy nguồn thức ăn cho bò đực giống HF và khả năng sản xuất tinh của bò HF bị tác động bởi yếu tố mùa vụ. Các mức năng lượng và protein khác nhau, các mức bổ sung khoáng khác nhau có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất dinh của bò HF.

Xuất phát từ thực tiễn đó, Cơ quan chủ trì Viện Chăn nuôi cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Phùng Thế Hải thực hiện Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam với mục tiêu: Xây dựng được khẩu phần ăn phù hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất tinh của bò đực giống Brahman nuôi tại Việt Nam.

Nguồn thức ăn thô xanh (cỏ Ghine, cỏ Mulato II) thức ăn thô khô (cỏ Pangola khô) thức ăn bổ sung (thóc mầm, thức ăn tinh hỗn hợp luôn đảm bảo cung cấp cho bò đực giống trong hai mùa Hè - Thu và Đông - Xuân. khẩu phần ăn cung cấp cho bò đực giống. Khẩu phần ăn cung cấp cho bò đực giống Brahman tại Trạm Moncada có giá trị dinh dưỡng đảm bảo với tiêu chuẩn ăn của 16 NRC (1996). Tuy nhiên khẩu phần ăn vào thực tế của bò đực giống Brahman tại trạm Moncada: ME đáp ứng được từ 92,28 đến 95,25%; protein đáp ứng được từ 92,55% đến 97,14% so với khuyến cáo của NRC (1996 cho bò đực trưởng thành.

Số lượng và chất lượng tinh của đàn bò đực giống Brahman nuôi tại Trạm Moncada đảm bảo sản xuất được tinh đông lạnh. Kết quả thể tích tinh dịch (V) đạt từ 6,37 đến 6,42 ml; hoạt lực tinh trùng (A đạt từ 69,85 đến 71,50%; nồng độ tinh trùng (C) từ 1,38 đến 1,43 tỉ/ml; tỷ lệ tinh trùng sống (TLTTS đạt từ 81,06 đến 81,55%; và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K đạt 14,55 đến 15,25%.

Thể tích tinh dịch và hoạt lực tinh trùng của các bò đực không cho thấy có sự sai khác giữa các mức năng lượng trao đổi và protein thô cho ăn (P>0,05 ở các mùa vụ. Trong mùa Hè - Thu, các bò đực giống ăn mức III thể tích tinh dịch đạt 6,45 ml, hoạt lực tinh trùng 71,72%. mức II thể tích tinh dịch đạt 6,40, hoạt lực tinh trùng 71,52 và mức I thể tích tinh dịch đạt 6,41, hoạt lực tinh trùng 71,06%. Mùa Đông - Xuân hoạt lực tinh trùng tăng dần ở các bò đực ăn dinh dưỡng mức I, II và mức III. cụ thể bò đực giống ăn mức I hoạt lực tinh trùng đạt 71,89%, mức II hoạt lực tinh trùng đạt 72,64% và mức III cao nhất đạt 73,07%. Tuy nhiên không có sai khác (P ≥0,05). Hoạt lực tinh trùng mùa Đông - Xuân cũng có xu hướng cao hơn so với mùa Hè - Thu khi các bò đực giống ăn cùng mức năng lượng trao đổi và protein thô.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

- Lượng thức ăn thu nhận thực tế của bò đực giống Brahman tại Trạm Moncada: ME đáp ứng được từ 92,28 đến 95,25%; protein đáp ứng được từ 92,55% đến 97,14% so với khuyến cáo của NRC (1996 cho bò đực trưởng thành.

- Thực trạng số lượng, chất lượng tinh đông lạnh của bò đực giống Brahman mùa Đông - Xuân tốt hơn mùa Hè - Thu. Trong mùa Đông - Xuân (VAC đạt 6,56 tỉ/lần KT, tỷ lệ tinh trùng sống đạt 81,55%), mùa Hè - Thu (VAC đạt 6,14 tỉ/lần KT, tỷ lệ tinh trùng sống đạt 81,06%).

- Tiêu chuẩn năng lượng trao đổi và protein thô ăn vào thích hợp nhất cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh ở mức 105%NRC (1996), tương đương mùa Hè - Thu ME: 34,40 Mcal/con/ngày, CP: 1.036,35 g/con/ngày; mùa Đông - Xuân ME: 34,45 Mcal/con/ngày, CP: 1.035,35 g/con/ngày theo VCK cho kết quả sản xuất tinh đông lạnh và hiệu quả kinh tế cao nhất.

- Mức bổ sung kẽm và selen mức 105%NRC (1996 tương đương Zn là 31,5 ppm, Se là 0,105 ppm theo VCK cho kết quả về số lượng, chất lượng tinh dịch tốt nhất.

- Khẩu phần ăn của bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh sử dụng tỷ lệ thức ăn thô, tinh

- Phương thức cho ăn TMR cho kết quả số lượng, chất lượng tinh dịch cao hơn phương thức cho ăn truyền thống.

- Kết quả nghiên cứu khẩu phần thức ăn cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh phù hợp về mức năng lượng trao đổi, protein thô, bổ sung khoáng vi lượng Zn, Se, sử dụng tỷ lệ thức ăn tinh, thô và cho ăn với phương thức TMR trong điều kiện Việt Nam giúp nâng cao năng suất tinh của bò đực giống Brahman lên 22,73% so với lúc bắt đầu thí nghiệm và tăng 12,73 % so với hợp đồng.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17290/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu công nghệ ép đóng bánh sắt xốp làm nguyên liệu cho các lò luyện thép (28/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên ép quặng cám cung cấp cho lò hoàn nguyên (28/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống cánh khuấy chống đóng bám thay thế cánh khuấy truyền thống (28/9/2022)
Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm công nghệ chống thấm hồ thải quặng đuôi ở các nhà máy tuyển khoáng sử dụng màng phun áp lực thay thế màng chống thấm HDPE (27/9/2022)
Nghiên cứu chế tạo hệ thống thải tro xỉ nhà máy nhiệt điện đốt than (27/9/2022)
Nghiên cứu khả năng bảo vệ da của cao chiết hoa thanh long (22/9/2022)
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân và sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng I - 131 (22/9/2022)
Nghiên cứu bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (22/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo và đánh giá các dòng xoan ta chuyển gen sinh trưởng nhanh có triển vọng (22/9/2022)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng rau quả của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (22/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (20/9/2022)
Chiết tách thành công lycopene từ quả gấc (20/9/2022)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả thực hiện các chương trình và dự án phát triển năng lực của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) tại Việt Nam (20/9/2022)
Nghiên cứu dự báo nguy cơ tai biến trượt lở mái dốc dọc các tuyến giao thông trọng điểm miền núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp ứng phó (19/9/2022)
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp quản lý bệnh cháy lá hại rừng trồng bạch đàn tại vùng Trung tâm Bắc Bộ (19/9/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị giám sát để điều khiển chế độ sấy lúa tối ưu cho máy sấy tháp (19/9/2022)
Nghiên cứu điều chế thử nghiệm Silic tinh thể dạng nano bằng phương pháp nhiệt kim (15/9/2022)
Nghiên cứu tạo sự kiện (event) ngô biến đổi gen chịu hạn đáp ứng về an toàn sinh học và có giá trị kinh tế (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam (15/9/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất 05 hệ chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy (13/9/2022)
Ứng dụng công nghệ trong xây dựng hệ thống thấu hiểu khách hàng và lắng nghe mạng xã hội (12/9/2022)
Lưu giữ và bảo tồn nguồn gen cây nguyên liệu giấy (12/9/2022)
Thị trường đích, phương thức quản trị và nâng cấp chuỗi giá trị: trường hợp ngành hàng gạo và thủy sản ở Việt Nam (12/9/2022)
Nghiên cứu, tính toán các đặc trưng nơtron, thủy nhiệt và phân tích an toàn lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu do Liên bang Nga đề xuất cho Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Việt Nam (12/9/2022)
Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp nhà màng trong canh tác dưa lưới tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (09/9/2022)
Nghiên cứu, đề xuất và áp dụng thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (09/9/2022)
Công nghệ chiết xuất và thử nghiệm sản xuất viên nang cứng hỗ trợ điều trị tiểu đường từ loài khổ qua, thìa canh và địa hoàng (08/9/2022)
Sản xuất thử nghiệm premix khoáng, premix vitamin cho chăn nuôi (07/9/2022)
Nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật xử lý, sơ chế, bảo quản một số loại quả chủ lực (chuối, sầu riêng, bơ) phục vụ nội tiêu và xuất khẩu (07/9/2022)
Nâng cao năng lực, xây dựng và kiểm nghiệm phương pháp chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam (06/9/2022)
Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng nguồn lợi và khả năng khai thác, nuôi trồng các loài rong biển kinh tế tại các đảo tiền tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (06/9/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai chịu hạn, năng suất cao phục vụ chuyển đổi cây trồng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (31/8/2022)
Nghiên cứu tuyển than cám 0,5-8 mm vùng Vàng Danh - Uông Bí trên thiết bị tuyển nổi trọng lực dạng hydrofloat năng suất 1,0 t/giờ (31/8/2022)
Dự án AQUAMN triển khai Hệ thống quan trắc nước ngập mặn ở Cà Mau (29/8/2022)
Tính toán ảnh hưởng của nhiên liệu có chứa Actini hiếm đến tính toán vật lý và an toàn lò phản ứng năng lượng VVER (V491) (25/8/2022)
Xây dựng quy trình chiết xuất, bào chế và thử nghiệm sản xuất cao Mướp đắng và viên nang chứa cao khô giàu hoạt chất saponin hỗ trợ điều trị bệnh Đái tháo đường (25/8/2022)
Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, phát triển nghề nuôi ong mật và chế biến các sản phẩm ngành ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc (25/8/2022)
Nghiên cứu viên nang bảo vệ gan từ bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên (25/8/2022)
Ứng dụng enzyme hoạt hoá sản xuất rượu táo mèo Tây Bắc (23/8/2022)
Ứng dụng chế phẩm Lactoferrin vào sản xuất thực phẩm chức năng (22/8/2022)
Đa dạng sản phẩm từ cây sâm Việt Nam (22/8/2022)
Sản xuất thử nghiệm giống sắn KM7 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo lũ, lụt và hạn hán theo thời gian thực trên nền tảng WebGIS (22/8/2022)
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Thông báo về việc kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: “Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị”

Thông báo Kết quả xét chọn tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề tài: "Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các xã, thị trấn biên giới tỉnh Quảng Trị"

Thông báo Về hướng dẫn hồ sơ, trình tự thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Phát triển KH&CN hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 695
Hôm nay 1.657
Hôm qua 6.977
Tất cả 6.583.036
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!