Thứ Tư ngày 17/8/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Sáu, ngày 17/6/2022

Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam
Du lịch là ngành phát triển nhanh chóng trong vài thập kỷ qua (Stelios & Melisidou, 2010). Ngày nay, du lịch là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất. Du lịch có vô số tác động, cả tích cực và tiêu cực đối với các vấn đề văn hóa xã hội, kinh tế và môi trường (Cheng, Chiang, Yuan, & Huang, 2018; Stelios & Melisidou, 2010). Rõ ràng, du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp tài chính toàn cầu, đạt được thành tựu lớn hơn nhiều lần so với các ngành kinh tế khác.

Khi các chuyến bay quốc tế trở nên rẻ hơn và du lịch ngày càng tiếp cận được với nhiều người hơn, tác động của du lịch đối với cộng đồng toàn cầu đang trở nên rõ ràng. Số lượng khách du lịch quốc tế đã tăng theo cấp số nhân từ 25 triệu vào năm 1950 lên 1,1 tỷ vào năm 2015, và trong khi ngành du lịch và du lịch toàn cầu tạo ra khoảng 10% GDP của thế giới, ở nhiều quốc gia, có tới 80% trong số này đến từ khách du lịch nước ngoài (Build Abroad, 2017). Tuy vậy, tác động từ du lịch tới môi trường lại vô cùng lớn, từ khí thải do vận chuyển hành khách đến sự biến mất của các loài sinh vật trong quá trình phát triển các khu nghỉ dưỡng và các điểm tham quan, cùng quá trình hủy hoại lối sống của người dân bản địa và thoái hóa tài nguyên cộng đồng địa phương, khiến du lịch không còn là công cụ phát triển kinh tế hiền hòa như trước kia (Stelios & Melisidou, 2010).

Với sự phát triển của ngành du lịch, các vấn đề nghiêm trọng liên quan tới môi trường do du lịch gây ra đã nhận được sự quan tâm đông đảo từ công chúng (Cheng et al., 2018; Gurung, 2015; Hwang & Lee, 2018). Mối quan tâm về tính bền vững trong ngành du lịch đã dẫn đến sự xuất hiện của một hình thức du lịch mới, được gọi là du lịch xanh; hình thức này thúc đẩy ý tưởng về tính bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (Butarbutar & Soemarno, 2013; Hwang & Lee, 2018). Theo Hiệp hội du lịch quốc tế, du lịch xanh có thể được định nghĩa là du lịch có trách nhiệm tới các khu vực tự nhiên, liên quan tới việc bảo tồn môi trường, duy trì sự thịnh vượng của người dân địa phương. Du lịch xanh thường liên quan tới các yếu tố sau: học tập, giải trí và phiêu lưu được thực hiện trong môi trường tự nhiên (Hwang & Lee, 2018).

Du lịch xanh có thể bảo vệ môi trường sống tự nhiên và môi trường nguyên sơ. Sự giàu có của các nước đang phát triển như Việt Nam thường gắn liền với tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản và đất đai sử dụng cho nông nghiệp. Khai thác các tài nguyên này đồng nghĩa với việc thay đổi hoặc phá hủy môi trường sống hoang dã và cảnh quan thiên nhiên. Các dịch vụ du lịch lớn có khả năng thay đổi truyền thống và lối sống của người dân bản địa. Khi điều này xảy ra, người dân địa phương thường phải di dời và bị tàn phá ở cả mức độ thể chất và cảm xúc do những căng thẳng về xã hội (Gurung, 2015; Williams, 2011). Du lịch xanh là một khía cạnh quan trọng của du lịch bền vững, tập trung vào việc bảo tồn các khu vực tài nguyên, đất đai và động vật hoang dã (Gurung, 2015; Weber, 2013). Điều này không chỉ bao gồm giữ nguyên hiện trạng môi trường du lịch, mà còn là sự sáng tạo và cải thiện tình hình hiện tại, chẳng hạn như hỗ trợ người dân địa phương bảo vệ một giống vật nuôi hay cây trồng sắp bị tuyệt chủng.

Xuất phát từ thực tiễn đó nhóm nghiên cứu do Cơ quan chủ trì Học Viện ngân hàng cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Vân Hà thực hiện đề tài Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam với mục tiêu: Đánh giá thực trạng và tiềm năng của du lịch xanh tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch xanh tại Việt Nam.

Du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia, trong đó có việt nam. Tuy nhiên, ngoài những lợi ích tích cực mang lại, việc phát triển du lịch ồ ạt đang mang lại những thách thức đối với môi trường và các cộng đồng địa phương. Du lịch xanh được hiểu là “du lịch đến những điểm đến, nơi hệ thực vật, động vật và di sản văn hóa là những điểm thu hút chính; nơi tác động của khí hậu được giảm thiểu với mục đích tôn trọng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên". Trên cơ sở đó nhóm đề tài đã thực hiện nghiên cứu hệ thống lý thuyết về du lịch xanh, đánh giá thực trạng và tiềm năng của du lịch xanh tại việt nam từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch xanh tại việt nam.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Thứ nhất, đề tài đã tập trung phân tích, làm rõ cơ sở lý thuyết về du lịch xanh với những đặc điểm và qui trình phát triển du lịch xanh, các nhân tố chủ yếu tác động tới ý định lựa chọn du lịch xanh của du khách, vai trò của du lịch canh đối với địa phương. Việc hệ thống kinh nghiệm phát triển du lịch xanh của các quốc gia rằng việc triển khai tốt du lịch xanh sẽ giúp phát triển kinh tế địa phương bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học cũng như phát huy và bảo tồn văn hoá, di sản của địa phương.

Thứ hai, thông qua phân tích thực trạng về du lịch xanh cho thấy Việt Nam đã có chính sách và chiến lược để phát triển du lịch xanh, xu hướng phát triển du lịch xanh được nhiều địa phương và doanh nghiệp ủng hộ, Du lịch xanh góp phần giải quyết nhu cầu việc làm cho nhiều địa phương. Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch xanh cho thấy Khách du lịch có xu hướng lựa chọn du lịch xanh ngày càng nhiều. Tuy vậy, một số yếu tố vẫn còn là cản trở cho sự phát triển của du lịch xanh thời gian tới như: Sự phát triển thiếu đồng bộ của các cơ sở lưu trú; Thiếu hụt cơ chế, chính sách và những hướng dẫn cụ thể về phát triển du lịch xanh. Những vấn đề này cần có những giải pháp để hoàn thiện và phát triển du lịch xanh thời gian tới.

Thứ ba, thông qua nghiên cứu điều tra khảo sát đối với du khách cho thấy tiềm năng phát triển du lịch xanh tại Việt Nam là rất khả thi. Việt Nam có nhiều Tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch xanh với đa dạng sản phẩm, khả năng tiếp cận du lịch xanh dễ dàng, và các nguồn lực hỗ trợ cho phát triển du lịch xanh cũng đã được nhận diện và đang tạo cho nền tàng tốt. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng 125 đến phát triển du lịch xanh tại Việt Nam bao gồm: (1) Nhân lực ngành du lịch; (2) Chính sách hỗ trợ du lịch xanh; (3) sản phẩm du lịch xanh; (4) cơ sở lưu trú xanh; (5) giao thổng điểm đến và (6) lựa chọn du lịch xanh của du khách. Trong đó, 4 yếu tố tác động mạnh mẽ nhất là chính sách hỗ trợ phát triển du lịch xanh; nguồn nhân lực cho phát triển du lịch xanh; các sản phẩm du lịch xanh và cơ sở lưu trú.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17262/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu xây dựng, ứng dụng và phổ biến bộ công cụ chẩn đoán doanh nghiệp ngành công thương (15/8/2022)
Nghiên cứu chính sách, mô hình Quỹ Chất lượng Dịch vụ (QSF) của UPU và đề xuất khai thác hiệu quả cho Việt Nam (15/8/2022)
Nghiên cứu tạo giống gốc để sản xuất vắc-xin cúm A/H5N1 (15/8/2022)
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (09/8/2022)
Nghiên cứu thức ăn nuôi cua lột (Scylla sp.) năng suất cao trong hệ thống tuần hoàn (09/8/2022)
Sản xuất viên nang Zerumboner từ cây gừng gió Việt Nam (08/8/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học trên cơ sở sợi collagen tự nhiên từ vảy cá (08/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng hệ thống pilot chế biến xỉ titan thành sản phẩm TiCl4 và TiO2 công suất 50kg/h (05/8/2022)
Nghiên cứu axit hóa đại dương vùng biển phía Nam (05/8/2022)
Nghiên cứu chế phẩm từ vi khuẩn tía quang hợp xử lý ô nhiễm ao hồ nuôi trồng thủy sản (05/8/2022)
Sản xuất giống hoa lan hồ điệp quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống (05/8/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (04/8/2022)
Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của quả me rừng (Phyllanthus emblica L.) (04/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán (03/8/2022)
Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho bò đực giống Brahman sản xuất tinh đông lạnh tại Việt Nam (03/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (02/8/2022)
Mối liên hệ giữa đột biến gen và khả năng kháng thuốc điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu xác định cách thức nhằm mục tiêu cụ thể và ngăn chặn các tế bào bạch cầu liên quan đến bệnh tật (02/8/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giao thông vận tải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất viên nang Zerumboner từ cây Gừng gió Việt Nam (Zingiber Zerumbet Smith) để hỗ trợ điều trị ung thư (02/8/2022)
Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ logistics của Việt Nam (02/8/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống điện năng lượng mặt trời theo phương pháp tự động dò bám (02/8/2022)
Hoàn thiện quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm mới chè xanh viên nén phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu (02/8/2022)
Nghiên cứu công nghệ tích hợp hóa sinh chế biến rượu vang chất lượng cao từ quả điều (02/8/2022)
Nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện công nghệ chọn tạo, phát triển sản xuất một số chủng loại rau, hoa, quả chủ lực ở Việt Nam (29/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và thiết bị cơ giới hóa đồng bộ sản xuất mía tại các vùng chuyên canh (29/7/2022)
Nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước và đề xuất xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho Việt Nam (29/7/2022)
Chiến lược biển của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý chính sách cho Việt Nam (29/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa tin học trong việc lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh ở Việt Nam (26/7/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm giàu hoạt chất sinh học từ vừng đen (26/7/2022)
Nghiên cứu phương pháp mới gây đột biến ở ngô bằng xử lí hóa chất EMS trên hạt phấn và câu đột biến có định hướng (TILLING) phục vụ nghiên cứu và chọn giống ngô (22/7/2022)
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng cây sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai) (22/7/2022)
Nghiên cứu chế tạo KIT phát hiện nhanh Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi và Aflatoxin M1 trong sữa tươi (22/7/2022)
Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ (19/7/2022)
Ứng dụng công nghệ sinh học đa dạng hóa sản phẩm từ nấm (18/7/2022)
Nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu (15/7/2022)
Nano Selen có vai trò như một Auxin mới trong ra rễ thực vật nuôi cấy in vitro (14/7/2022)
Quy trình kích tăng tỷ lệ hoa cái trên cây sacha inchi Plukenetia volubilis (14/7/2022)
Mở rộng tiềm năng kinh tế của Sacha inchi dựa trên khoa học và công nghệ (14/7/2022)
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu cacbon cấu trúc nano trong việc nâng cao các tính chất cơ học của lớp mạ điện công nghiệp (14/7/2022)
Nghiên cứu điều chế hydrogel đa chức năng ứng dụng hỗ trợ điều trị vết thương bệnh lý đái tháo đường (13/7/2022)
Hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm AM in vitro cho cây trồng lâm nghiệp (13/7/2022)
Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đối với cầu đường sắt tại các vị trí đường cong có bán kính nhỏ cho hệ thống đường sắt tốc độ cao (11/7/2022)
Nghiên cứu sử dụng GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (11/7/2022)
Nghiên cứu cơ chế quan hệ đối tác công tư và các chính sách, giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến công nghệ tại Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu tác động của các hiệp định đa biên về dịch vụ vận tải hàng không giữa các nước trong ASEAN và đề xuất chính sách cho Việt Nam (08/7/2022)
Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu và sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư từ cây thuốc Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo và nấm Linh chi tại Lào Cai và vùng Tây Bắc (07/7/2022)
Tạo hạt nano vàng bằng phương pháp nuôi mầm (05/7/2022)
Chế tạo β-glucan khối lượng phân tử thấp bằng phương pháp chiếu xạ và khảo sát hiệu ứng giải độc gan, bảo vệ bức xạ định hướng làm thực phẩm chức năng (05/7/2022)
Tận dụng phế phẩm nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ) để phát triển nghề trồng nấm bào ngư (Pleurotus sp.) ở tỉnh Sóc Trăng (05/7/2022)
Thông báo về việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông báo Ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại buổi làm việc với Hội Doanh nhân trẻ Quảng Trị

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng KH&CN trong nhân giống và trồng cây Vanilla trong nhà lưới theo hướng VietGap tại huyện Hướng Hóa
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thống kê truy cập
Số người online 580
Hôm nay 3.870
Hôm qua 5.986
Tất cả 6.212.766
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!