Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 04/5/2022

Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống
Cá rô phi đỏ (O. spp) được phát hiện lần đầu tiên năm 1969 tại một trại nuôi cá rô phi ở phía Nam Đài Loan. Từ phát hiện này, một quần thể cá rô phi đỏ đầu tiên được phát triển tại Viện Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan (Kuo, 1969). Số cá rô phi đỏ này được ghi nhận là con lai giữa cá rô phi đen (O. mossambicus) đột biến màu (mutant-coloured) với cá rô phi vằn (O. Niloticus) (Liao và Chen, 1983). Một số dòng cá rô phi đỏ khác, ví dụ như dòng cá rô phi đỏ Florida, được tạo ra bằng cách lai giữa 4 loài cá rô phi, đó là cá rô phi đen với cá rô phi vằn, cá rô phi xanh (O. aureus) và cá rô phi Zanzibar (O. urolepis-hornorum) (McAndrew và ctv, 1988; Lovshin, 200; Desprez và ctv, 2006). Tuy nhiên, cá rô phi đỏ có nguồn gốc từ cá rô phi đen với cá rô phi vằn là phổ biến nhất, đặc biệt tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Trung Đông (Huang và ctv, 1988, Reich và ctv, 1990, Mather và ctv, 2001).

Do đó một số tác giả khi đề cập đến cá rô phi đỏ chỉ trích dẫn là con lai của cá rô phi đen hoặc cá rô phi vằn mà không giải thích gì thêm (Romana-Eguia, 2004, Medeiros và ctv, 2004, Wing-Keong và Rosdiana, 2007). Một số nhóm cá rô phi đỏ cũng được phát hiện trong một quần thể cá rô phi đen (Wohlfarth và ctv, 1990) hoặc cá rô phi vằn (McAndrew và ctv, 1988) thuần chủng. Tóm lại, cá rô phi đỏ không phải là một loài cá rô phi riêng biệt mà chỉ là con lai giữa hai (hoặc tối đa 4) loài cá rô phi khác nhau.

Có thể dễ dàng phân biệt cá rô phi đỏ với các loài cá rô phi khác bằng màu sắc. Cá rô phi đỏ có các màu từ xám, trắng, hồng, đỏ cam, có thể lẫn các đốm đen. Ngoại hình cá không khác biệt so với cá rô phi vằn ở các chỉ tiêu hình thái như chiều cao thân, chiều dài đầu, chiều dài chuẩn, đường kính mắt, số gai cứng vây lưng, số tia vây lưng mềm, số tia vây hậu môn và số cung mang (Pante và ctv, 1988). Các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của cá rô phi đỏ cũng tương tự như cá rô phi vằn, tuy nhiên cá rô phi đỏ (đặc biệt là dòng rô phi đỏ Florida) có sức chịu mặn tốt hơn, do đó có thể sống và tăng trưởng tốt ở môi trường mặn lợ (Romana-Eugia và Eguia, 1999, 2004).

Ở Việt Nam, cá rô phi đỏ được nuôi chủ yếu ở miền Nam, nơi có những điều kiện về thổ nhưỡng, thủy lưu thích hợp nhất cho loài cá này, đặc biệt là ở các tỉnh, thành phố thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Vĩnh Long. Cá rô phi đỏ còn được gọi là cá điêu hồng tại Nam Bộ. Năm 2015, sản lượng cá rô phi đỏ của Việt Nam đạt 59.750 tấn, chiếm 47,8% tổng sản lượng cá rô phi trong cả nước (seafood-tip, 2017).

Cá rô phi đỏ chọn giống của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II là nguồn vật liệu tốt, góp phần cải thiện chất lượng con giống cho người nuôi so về tốc độ tăng trưởng (>24% so với cá không chọn lọc) và màu sắc, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, đóng góp kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Vì vậy, việc triển khai dự án phát tán cá rô phi đỏ chất lượng (tăng trưởng nhanh, màu sắc đẹp) là cần thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ; song song đó các cơ sở sản xuất giống cần được đào tạo tập huấn về kỹ thuật quản lý cá bố mẹ, kỹ thuật sản xuất giống, ương nuôi cá giống đảm bảo chất lượng cung ứng nhu cầu cho cả nước.

Xuất phát từ thực tiễn đó, Cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Ths.Trần Hữu Phúc thực hiện đề tài “Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống” với mục tiêu Chủ động sản xuất giống cá rô phi đỏ bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh, chịu mặn từ nguồn cá chọn giống trong nước.

Nghề nuôi cá rô phi đỏ hiện đang gặp khó khăn về chất lượng con giống. Thứ nhất, tăng trưởng kém, cá rô phi đỏ nuôi bè hoặc nuôi đăng quần sau 6 tháng có thể đạt trung bình 500 g/con, mức tăng trưởng này chỉ bằng 80% so với cá rô phi vằn dòng GIFT, do đó hiệu quả 13 kinh tế chưa cao. Thứ hai, sức sống thấp, con giống có sức khỏe kém, dễ bệnh, tỉ lệ hao hụt cao (tỷ lệ chết là 35% vào năm 2014 (Boerlage AS và ctv., 2017) và có thời điểm tỉ lệ hao hụt lên tới 70% (Trịnh Quốc Trọng và ctv., 2016) từ giai đoạn cá giống đến khi thu hoạch) làm tăng chi phí sản xuất, nghề nuôi đạt hiệu quả kém. Các chỉ tiêu trong quá trình nuôi đều bị ảnh hưởng từ chất lượng con giống thấp, ví dụ như tỉ lệ sống thấp, hệ số chuyển hóa thức ăn cao, chi phí thuốc phòng trị bệnh tốn kém. Thứ ba, cá rô phi đỏ hiện nay có màu sắc không thuần nhất, đôi khi lẫn nhiều đốm đen, làm giảm giá trị của sản phẩm. Thị trường luôn ưa chuộng và trả giá cao hơn cho những cá thể có màu hồng phấn hoàn toàn, không lẫn đốm đen. Nhìn chung thị trường nội địa đánh giá chất lượng con giống theo những tiêu chí sau (xếp theo mức độ quan trọng): màu hồng thuần nhất, không có đốm đen, tỉ lệ sống, tăng trưởng nhanh.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Kết quả duy trì đạt 1.512 con, khối lượng trung bình tại thời điểm kết thúc dự án đạt 652,7 g/con, tỷ lệ sống theo từng năm đạt dao động từ 92,4 - 99,0%, tỷ lệ sống tích lũy trong 3 năm đạt 88,9% (đạt yêu cầu TMĐC: số lượng 1.500 con; khối lượng trung bình > 500 g/con; tỷ lệ sống hàng năm đạt >90%).

Trong 3 năm 2016-2018, dự án đã chuyển giao 77.000 cá hậu bị cho 8 cơ sở sản xuất cá bột, bao gồm 62.000 con được sinh sản từ bố mẹ chọn giống tăng trưởng nhanh trong môi trường nước ngọt và 15.000 con được sinh sản từ bố mẹ chọn giống tăng trưởng nhanh trong môi trường nước lợ mặn. Khối lượng trung bình của cá khi chuyển giao đạt dao động 100 - 120 g/con, tỷ lệ đực : cái khi chuyển giao là 1:3. Đàn cá hậu bị đã chuyển giao là đàn con của quần thể chọn giống tăng trưởng nhanh và màu sắc đẹp thế hệ thứ 3 (G3). (Đạt theo yêu cầu TMĐC đề ra: cung cấp 75.000 cá hậu bị (60.000 con thuộc dòng nước ngọt và 15.000 con thuộc dòng lợ mặn); khối lượng khi chuyển giao >100g/con; tỷ lệ đực:cái khi chuyển giao là 1:3).

Đã xây dựng 2 mô hình sản xuất giống tại (1) Công ty TNHH MTV Thương mại Sản xuất Thủy sản Tân Hưng (T.p Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) và (2) tại cơ sở sản xuất cá bột Việt Yến (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang - ương nuôi cá giống tại huyện Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ), hai mô sản xuất đạt gần 37.914.600 cá bột và ương nuôi cá giống đạt 2.482.552 con cá giống (hơn 1.200.000 con giống/mô hình), tổng khối lượng cá giống là 14.495 kg, khối 23 lượng cá giống trung bình dao động từ 5,1-6,7 g/con. Kết quả thực hiện mô hình cho thấy cá hậu bị bố mẹ chuyển giao có tỷ lệ thành thục (“sẵn sàng đẻ” và “sắp đẻ” (>70%)), sức sinh sản (500-900 cá bột/cá cái), tỷ lệ sống từ cá bột đến cá giống đạt trung bình từ 62,0 đến 65,3%. Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ở cá giống thấp dao động từ 1,33 đến 1,48. (Kết quả thực hiện đạt yêu cầu TMĐC: Sản xuất được 1.200.000 cá giống/mô hình; Khối lượng trung bình đạt 5 g/con; Tỷ lệ sống đến cỡ cá giống >60%; Hệ số chuyển đổi thức ăn là FCR ≤ 1,5).

Đã tổ chức tập huấn (2 lớp) cho 38 đại diện của các cơ sở sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp. Bao gồm hai phần: lý thuyết và thực hành về kỹ thuật quản lý đàn cá bố mẹ, kỹ thuật chọn cá bố mẹ đảm bảo chất lượng, phương pháp ghép lai cá đảm bảo chất lượng, phương pháp áp dụng và vận hành sản xuất giống đảm bảo chất lượng phục vụ truy xuất nguồn gốc. (Đạt yêu cầu TMĐC đề ra: hai lớp tập huấn (15 học viên/lớp); nội dung cả lý thuyết và thực hành).

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17252/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Nghiên cứu phát triển và chế biến thử nghiệm các sản phẩm từ quả bưởi (19/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 1.036
Hôm nay 2.064
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.810
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!