Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 21/4/2022

Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật là bảo vệ tài nguyên di truyền nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu khởi thủy phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, cải tạo giống, đảm bảo duy trì được sự đa dạng sinh học và những tiền đề cần thiết về tài nguyên sinh học cho sự phát triển bền vững nền nông nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Bảo tồn nguồn gen vật nuôi là một vấn đề cấp bách có tính chất toàn cầu.

Trong bối cảnh bùng nổ dân số và sự thay đổi không thuận lợi của môi trường thì an toàn lương thực và thực phẩm là mối quan tâm hàng đầu của thế giới hiện nay. Mặt khác, do áp lực của nền kinh tế thị trường và nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng nhanh, đáp ứng với sự tăng dân số trên thế giới nên đòi hỏi những giống có năng suất cao, vì vậy rất nhiều giống vật nuôi bản địa đang có nguy cơ bị mất đi, do đó sẽ mất đi nguồn gen đặc trưng quý báu đó. Gần đây, FAO cũng đã đưa ra một cái nhìn bao quát về tình trạng đa dạng di truyền trên toàn thế giới, với trọng tâm chính là số lượng giống trong các loài vật nuôi chính được sử dụng trong lương thực và nông nghiệp.

Năm 2014, cơ sở dữ liệu của FAO đã báo cáo có 11.062 các loài động vật có vú và 3.802 loài gia cầm. Theo quan điểm của FAO đưa ra kết luận rằng tỷ lệ các giống được phân loại là "nguy cấp" tăng từ 15 đến 17% trong khoảng thời gian từ 2006-2014. Tỷ lệ các giống được xếp loại “không nguy cấp” đã giảm từ 21 xuống 18%. Tỷ lệ các giống được phân loại là “tuyệt chủng” được duy trì ở mức 7%. Tuy nhiên, 58% các giống ở tình trạng không biết. Sự không chắc chắn về tình trạng này là một trong những lý do mà báo cáo của FAO nhấn mạnh rằng sự đa dạng di truyền giữa các giống trong một loài đang bị đe dọa liên tục. Sự tuyệt chủng của nhiều giống vật nuôi bản địa, những giống này tuy năng suất thấp nhưng mang lại những đặc điểm quý như thịt thơm ngon, chịu kham khổ tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái. Sự tuyệt chủng này gần đây xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường và đô thị hóa.

Nhận thức sâu sắc hiểm họa đang đến với các giống vật nuôi bản địa, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt nhiệm vụ Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi” cho nhóm nghiên cứu Viện Chăn nuôi do TS. Phạm Công Thiếu làm chủ nhiệm như là một nhiệm vụ thường xuyên.

Nhiệm vụ Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi năm 2019 đã đạt được các kết quả như sau:

1. Bảo tồn và lưu giữ

- Bảo tồn và lưu giữ được 16 đối tượng nguồn gen vật nuôi, trong đó nhóm gia súc có 8 đối tượng (lợn Cỏ Bình Thuận, lợn Chư Prông, lợn Mường Tè, lợn Kiềng Sắt, ngựa Mường Lống, trâu Langbiang, dê đen và thỏ nội). Nhóm gia cầm có 5 đối tượng (gà tây Kỳ Sơn, gà trụi lông cổ, gà lông chân gà H’Re và gà lùn Cao Sơn). Nhóm thủy cầm có 3 đối tượng (vịt Mường Khiêng, ngan Xám và ngỗng Cỏ) và 200 liều tinh lợn Ỉ. Nhóm ong có 02 nguồn gen trong đó có nguồn gen ong khoái Apis dorsata và nguồn gen ruồi đỏ Apis florea. Nhìn chung số lượng các đối tượng nguồn gen đủ và vượt so với theo kế hoạch được giao với đặc điểm ngoại hình và một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ổn định.

2. Điều tra tìm kiếm và bổ sung nguồn gen tiềm ẩn

- Đã điều tra tìm kiếm 02 nguồn gen là gà lông xù tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai và trâu Phú Lộc tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong 02 nguồn gen trên, gà lông xù có đặc điểm ngoại hình đặc trưng và bộ lông xù hoàn toàn khác biệt với các giống gà nội khác và xuật hiện từ khi gà con được sinh ra. Trong khi đó trâu Phú Lộc có ngoại hình, tầm vóc, khối lượng cơ thể gần tương đồng với các quần thể trâu khác của Việt Nam như trâu Thanh Chương, trâu Chiêm Hóa, trâu Bảo Yên.

- Đã điều tra thu thập nguồn gen ong tại các tỉnh Hải Phòng, Nghệ An và Điện Biên. Tại huyện Cát Bà (Hải Phòng) có mặt 02 nguồn gen ong mật (ong khoái và ong nội) với số lượng đàn tương ứng là 38 đàn và 2000 đàn. Tại huyện Con Cuông (Nghệ An) đã xác định ba nguồn gen ong mật gồm ong khoái, ong nội và ong ruồi đỏ với số đàn tương ứng là 189, 10 và 11, trong đó nguồn gen ong khoái dễ bắp gặp hơn cả. Đồng thời đã xác định được sự có mặt của 5 nguồn gen ong mật bao gồm ong khoái (88 đàn +), ong nội (650 đàn), ong ngoại (4500 đàn), ong ruồi và ong không ngòi tại huyện Điện Biên (Điện Biên).

3. Đánh giá nguồn gen

- Đã tiến hành đánh giá sơ bộ 02 đối tượng nguồn gen vật nuôi. Gà lông chân có hàng lông chân từ lúc 01 ngày tuổi chiếm 71,30%. Năng suất trứng đến 44 tuần tuổi đạt 42,98 quả/mái, tỷ lệ đẻ đạt 25,55%. Tỷ lệ trứng có phôi/tổng ấp là 86,50% và tỷ lệ nở/tổng ấp 75,39%. Gà trụi lông cổ có tuổi đẻ trứng đầu là 200 ngày tuổi, tỷ lệ đẻ 5% đạt ở 235 ngày tuổi và đỉnh cao ở 260 ngày tuổi. Năng suất trứng đạt 11,2 quả/mái/24 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ trung bình 6,67%. Trứng gà có tỷ lệ phôi đạt trung bình 93,02%, số con nở ra đạt 85,42%.

- Đã đánh giá chi tiết 01 đối tượng nguồn gen. Vịt Mường Khiêng có tuổi đẻ quả trứng đầu ở 155 ngày tuổi. Năng suất trứng theo dõi đến hết 52 tuần đẻ trungbình đạt 170,63 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình 46,88%. Tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 4,68kg. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 91,09%; tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt cao 83,56%; tỷ lệ vịt loại 1/số vịt nở đạt 94,55%.

- Đã đánh giá khoảng cách di truyền và phân tích ADN gà lùn Cao Sơn với 5 giống gà nội khác gồm gà Tè, gà Trới, gà Tiên Yên, gà Móng và gà Tò bằng chỉ thị phân tử microsatellite và khẳng định gà lùn Cao Sơn có cấu trúc di truyền khá thuần và riêng biệt so với 5 giống gà nội được sử dụng trong nghiên cứu.

4. Tư liệu hóa nguồn gen

- Các mẫu ong nghệ thu thập năm 2018 thuộc hai loài là Bombus trifasciatus Smith và Bombus montivolans Richards.

- Cập nhật bổ sung thêm thông tin, tư liệu, ảnh của 16 nguồn gen bảo tồn năm 2019 và một số nguồn gen bản địa vào phần mềm Vietgen.

Nhóm đề tài đề nghị tiếp tục bảo tồn các nguồn gen vật nuôi bảo tồn năm 2019, đồng thời bổ sung vào danh sách bảo tồn 01 đối tượng nguồn gen vật nuôi là gà lông xù (Gia Lai) và bổ sung thêm một điểm bảo tồn nguồn gen ong khoái tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Cần tiến hành điều tra tìm kiếm bổ sung đối với các nguồn gen ở trạng thái rất nguy hiểm và áp dụng đồng thời cả 02 hình thức bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ đối với các nguồn gen lợn Chư Prông, ngan Xám và ngỗng Cỏ. Đề nghị đưa nguồn gen trâu Langbiang ra khỏi danh sách các nguồn gen vật nuôi bảo tồn trong kế hoạch năm 2020.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17197/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Nghiên cứu phát triển và chế biến thử nghiệm các sản phẩm từ quả bưởi (19/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 1.032
Hôm nay 2.036
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.782
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!