Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 20/4/2022

Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba
Theo QCVN 04-05:2012/BNNPTNT mục 8.3.5 quy định: Những hồ chứa nước từ cấp I trở lên, ngoài tràn xả lũ chính phải bố trí thêm tràn xả lũ dự phòng (tràn xả lũ vượt lũ kiểm tra). Tràn xả lũ chính phải luôn đủ năng lực để xả được lũ thiết kế và lũ kiểm tra; Tràn xả lũ dự phòng kết hợp với tràn xả lũ chính phải xả được trận lũ vượt lũ kiểm tra, đảm bảo nước hồ không tràn qua đỉnh đập đất. Tần suất của trận lũ vượt lũ kiểm tra lấy theo quy định sau: Công trình cấp đặc biệt: lũ tần suất 0,01 % (tương ứng với chu kỳ lặp lại 10.000 năm) hoặc lũ cực hạn; Công trình từ cấp I trở xuống: lấy bằng tần suất lũ kiểm tra tương ứng với cấp công trình được tăng thêm một bậc.

Theo quyết định số 1077/QĐ-TTg ngày 07/07/2014 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba. Theo quyết định này trên sông Ba có các hồ chứa lớn như: An Khê - KaNak, Ayun Hạ, Krông Hnăng, Sông Hinh, Sông Ba Hạ. Theo QCVN 04- 05:2012/BNNPTNT các thuỷ điện này đều là công trình cấp 1 và được thiết kế và xây dựng trước năm 2012 (các quy định chủ yếu về thiết kế được áp dụng theo TCXDVN 285-2002) do đó việc thiết kế tràn xả lũ dự phòng để xả lũ vượt kiểm tra có thể chưa được nghiên cứu trong hồ sơ thiết kế. Trên cơ sở những phân tích ở trên cho thấy cần thiết phải xây dựng một bức tranh toàn cảnh cho từng lưu vực khi ứng phó với lũ vượt thiết kế.

Nhằm nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế của công trình (lũ vượt lũ kiểm tra) theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba, nhóm nghiên cứu của Viện năng lượng do ThS. Lê Nguyên Trung đứng đầu đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba”.

Sau một thời gian triển khai thực hiện, đề tài thu được một số kết quả như sau:

- Đề tài đã thu thập và xử lý một nguồn số liệu phong phú về địa hình, KTTV, hồ chứa, kinh tế-xã hội trên lưu vực sông Ba làm đầu vào cho bài toán.

- Những năm có lũ lớn trên lưu vực, tại trạm thủy văn Củng Sơn đo được như năm 1993 (20700 m3 /s), 2009 (13500 m3/s), 2016 (11800 m3/s), 2010 (8500 m3/s) cho thấy mưa thường xuất hiện trên toàn bộ lưu vực sông Ba thể hiện qua số liệu mưa ngày các trạm Sơn Hòa, MĐrắc, An Khê, AyunPa đều có lượng mưa ngày lớn hơn 100mm. Những trạm mưa nằm ngoài lưu vực sông Ba như PleiKu, Kon Tum, Buôn Hồ có lượng mưa không đáng kể. Lượng mưa ngày lớn nhất của các trạm MĐrắc, An Khê và Sơn Hoà có quan hệ khá chặt chẽ với lưu lượng dòng chảy lớn nhất tại trạm Củng Sơn. Do đó việc tính toán lũ trên lưu vực sông Ba có thể sử dụng lượng mưa của các trạm trong lưu vực sông Ba, các trạm lân cận lưu vực chỉ sử dụng để tham khảo.

- Sông Ba là con sông có tiềm năng xảy ra lũ lớn rất cao, môđun đỉnh lũ lớn rất nhiều so với hệ thống sông Hồng. Trong gần 100 năm qua, tại Củng Sơn đã xảy ra con lũ có Qmax trên 20000 m3/s. Thời gian duy trì các trận lũ thường chỉ 3-5 ngày. Lũ có biên độ lũ cao, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn: Đặc điểm này là do cường độ mưa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mưa nằm ở trung hạ du các lưu vực sông, độ dốc sông lớn, nước tập trung nhanh.

- Thống kê lưu lượng lớn nhất năm của chuỗi 40 năm (1977-2016) cho thấy lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm thường xảy ra nhiều nhất vào tháng 11 (20 lần), tiếp đó đến tháng 10 (14 lần), tháng 12 (4 lần), các tháng khác có thể xảy ra lũ nhưng đều là lũ nhỏ thời gian ngắn. Qua phân tích các trận lũ nhận thấy ứng với các trận lũ lớn thì lượng mưa lớn thường xuất hiện tại trạm MĐRắc và Sơn Hòa. Đây là một yếu tố cần được quan tâm trong công tác dự báo dòng chảy sông Ba.

- Đề tài đã cập nhật số liệu khí tượng, thủy văn khu vực thời gian gần đây tính toán lại dòng chảy lũ, tổng lượng lũ, quá trình lũ tương ứng với các tần suất thiết kế và vượt thiết kế. Kết quả tính toán được so sánh với các kết quả tính toán của các đơn vị tư vấn khác. Kết quả lựa chọn của đề tài là hợp lý.

- Đề tài đã xây dựng mô hình Mike11, Mike21, Mike Flood cho lưu vực sông Ba và đánh giá ngập lụt cho 3 kịch bản: Lũ năm 1993, lũ 0,5% và lũ vượt kiểm tra 0,02%. Diện tích ngập lụt trên 1m của phương án lũ 0,5% và 0,02% tăng mạnh so với phương án hiện trạng (1993) là 22,9% và 38,3%.

- Đánh giá khả năng ứng phó của các thuỷ điện với lũ vượt thiết kế: Trên cơ sở quá trình lũ thiết kế, kiểm tra và vượt kiểm tra tiến hành tính toán điều tiết lũ cho các thuỷ điện. Kết quả tính toán cho thấy: Thủy điện An Khê - KaNak có thể ứng phó với lũ vượt kiểm tra (0,02%) và công trình vẫn đảm bảo an toàn; Thủy điện Ayun Hạ, Krông HNăng, Sông Ba Hạ, Sông Hinh khi gặp lũ kiểm tra sẽ có mực nước hồ lớn nhất vượt đỉnh đập hoặc vượt mực nước cao nhất cho phép theo QTVHLHSB 2018.

- Giải pháp phi công trình và giảm ngập lụt hạ du: Giải pháp phi công trình phù hợp nhất là giải pháp tăng dung tích phòng lũ cho các hồ để giảm tác động ngập lụt dưới hạ du. Phương án tăng dung tích phòng lũ có thể nâng cao đập hoặc giảm mực nước đón lũ. Trong đề tài nghiên cứu tăng dung tích phòng lũ bằng cách giảm mực nước đón lũ. Kết quả lựa chọn của đề tài là kết quả của PA3 (Z đón lũ giảm 3m so với quy định của QTVHLHSB 2018) để ứng phó với lũ vượt kiểm tra nhằm giảm ngập lụt hạ du, kết quả tính toán cho thấy giảm được 249,3 triệu m3 nước về hạ du.

- Đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình: Sau khi các hồ có giải pháp tăng dung tích phòng lũ, một số hồ vẫn có mực nước lớn nhất cao hơn mực nước lớn nhất cho phép cuả hồ chứa theo QTVHLHSB 2018. Các hồ này cần có giải pháp công trình để đưa mực nước lớn nhất về mực nước cho phép khi gặp lũ vượt kiểm tra. Đề tài nghiên cứu bản vẽ thiết kế, đi thực địa công trình và sơ bộ vị trí, kích thước công trình cho các hồ chứa. Tính toán điều tiết đảm bảo mực nước lớn nhất không vượt quá cao trình mực nước lớn nhất cho phép của các hồ Ayun Hạ, Krông HNăng, Sông Hinh và Sông Ba Hạ.

Việc ứng phó với lũ vượt kiểm tra cần được nghiên cứu cụ thể cho từng lưu vực và từng hồ chứa. Để chủ động trong quá trình vận hành hồ chứa cần đầu tư phát triển và hoàn thiện phần mềm công nghệ, nâng cao tính tự động hóa trong quá trình vận hành hồ chứa cũng như phát triển và hoàn thiện phương pháp và công nghệ để có thể dự báo mưa, lũ và vận hành liên hồ thời gian thực. Để thực hiện nghiêm túc quy chuẩn QCVN 04 - 05:2012/BNNPTNT, các đơn vị quản lý cần giám sát chặt chẽ nội dung ứng phó với lũ vượt kiểm tra của các hồ chứa xây dựng mới. Với các hồ đã xây dựng cần nghiên cứu hướng dẫn các chủ hồ chứa đánh giá lũ vượt kiểm tra, đề xuất các giải pháp ứng phó và thực hiện nghiêm túc các giải pháp ứng phó với lũ vượt kiểm tra.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17048/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu phát triển và chế biến thử nghiệm các sản phẩm từ quả bưởi (19/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 873
Hôm nay 1.564
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.310
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!