Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Hai, ngày 18/4/2022

Nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn
Nuôi tôm hùm trong lồng ở biển ven bờ là nghề truyền thống ở miền Trung Việt Nam, đạt tổng sản lượng 1600-2000 tấn/năm. Việc sử dụng thức ăn tươi nuôi tôm hùm trong môi trường biển hở dẫn đến khó kiểm soát môi trường và mầm bệnh nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Ngoài ra nghề nuôi này cũng phần nào bị tác động bởi tình trạng ô nhiễm môi trường trong các vịnh bởi các lý do khác nhau như lượng chất thải tạo ra từ hoạt động nuôi ở mật độ quá dày vượt quá sức tải của môi trường vùng nuôi.
Bên cạnh đó, thiên tai có thể tàn phá hầu hết các bè nuôi tôm hùm ở vùng nuôi trọng điểm gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Những thách thức này là tín hiệu cảnh báo tính chưa bền vững của nghề nuôi tôm hùm bằng lồng trong các vùng vịnh kín ở biển ven bờ; đặt ra yêu cầu phát triển hình thức nuôi mới, hiện đại. Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm hướng đến mục tiêu 2600 tấn/năm vào năm 2030, cần có các giải pháp đồng bộ trong đó có mục tiêu phát triển hình thức nuôi tôm hùm trong bể trên bờ tái sử dụng nước (RAS).

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III (RIA3) cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Mai Duy Minh thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn”. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả nuôi tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp, hạn chế dịch bệnh và ô nhiễm môi trường, có hiệu quả kinh tế cao.

Nuôi thủy sản trong RAS là hướng mới, hiện đại được kỳ vọng, giúp tăng năng suất, giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh và thiên tai trên cơ sở người nuôi chủ động kiểm soát chất lượng nước, con giống, thức ăn và quản lý điều kiện nuôi hiệu quả hơn nhờ quá trình xử lý và tái sử dụng nguồn nước. Cho đến nay, mô hình này đã được áp dụng ở quy mô thương mại cho một số đối tượng và đã được thử nghiệm trên tôm hùm bông. Bên cạnh đó, viên thức ăn công nghiệp cũng đã được sản xuất phục vụ nuôi tôm hùm bông và tôm hùm xanh trong lồng biển ở Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay nuôi tôm hùm ở Việt Nam vẫn là nuôi trong lồng biển bằng thức ăn tươi. Có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể kể đến như tôm có tăng trưởng chậm, tỉ lệ sống thấp liên quan đến chất lượng viên thức ăn công nghiệp nuôi tôm trong lồng biển và chất lượng nước nuôi tôm hùm bằng thức ăn tươi trong RAS. Báo cáo này tóm tắt kết quả đạt được về hoàn thiện công thức thức ăn công nghiệp; phòng và trị bệnh nguy hiểm; thiết kế RAS; kết quả nuôi mô hình tôm hùm bông trong RAS và đề xuất quy trình nuôi tôm hùm bông thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong RAS. Kết quả đạt được là cơ sở để phát triển sớm nuôi tôm hùm bông trong bể trên bờ tái sử dụng nước và từng bước hoàn thiện quy trình nuôi tôm hùm thương phẩm bằng 100% thức ăn công nghiệp trong hệ thống tái sử dụng nước đạt hiệu quả kinh tế, ứng dụng được vào sản xuất.

Kết quả nghiên cứu cho thấy bổ sung 0,4% taurine và 0,4% Bio-mos® giúp cải thiện tăng trưởng về khối lượng của tôm hùm bông cỡ giống. Tôm ăn thức ăn có bổ sung taurine và Biomos® có khối lượng nhiều hơn so với tôm nuôi đối chứng. Tuy vậy phân tích thống kê cho thấy sai khác về khối lượng trung bình của tôm là không có ý nghĩa. Điều này có thể do mức độ sai khác là chưa đủ lớn giữa tôm ăn thức ăn viên công nghiệp và tôm ăn thức ăn công nghiệp bổ sung thêm taurine. Bổ sung taurine vào thức ăn công nghiệp giúp tăng tính hấp dẫn của nó với J. edwardsii qua đó gia tăng hiệu quả của thức ăn. Tuy vậy mức độ tiêu thụ thức ăn của J. edwardsii tăng lên khi bổ sung glycine so với bổ sung taurine. Trong nghiên cứu này quá trình thí nghiệm chưa đánh giá được sự khác nhau về phản ứng của P. ornatus đối với thức ăn có bổ sung thêm taurine so với thức ăn không bổ sung taurine. Như vậy vai trò của chất dẫn dụ và chất dinh dưỡng phụ thuộc vào loại chất và loài tôm hùm thử nghiệm.

Trên cơ sở kết quả theo dõi tập tính ăn của tôm hùm, hiện trạng viên thức ăn công nghiệp, tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm hùm sau đợt luyện tôm và thí nghiệm ương tôm bằng các loại viên thức ăn khác nhau cũng như trao đổi với các chuyên gia về thức ăn thủy sản trong nước có thể khẳng định rằng trong môi trường nuôi bể (là nơi ít chịu tác động của dòng chảy, không chịu tác động của sóng biển và các sinh vật cạnh tranh), chúng ta đã sản xuất được thức ăn công nghiệp dạng viên khô, 7 có độ đặc, chắc, đủ hấp dẫn tôm hùm bông trong phạm vi không gian hẹp, có tính ổn định cao trong nước; tôm ăn thức ăn này có thể lột xác bình thường; sau khi lột xác tôm mới lột ít bị đồng loại ăn thịt khi đạt cỡ trên 20 g/con. Xu hướng để cải thiện chất lượng viên thức ăn sẽ tập trung khai thác vai trò của các nguyên liệu có nguồn gốc từ biển; áp dụng quy trình tạo viên và sấy hiệu quả; tạo kích thước hạt mịn cho nguyên liệu đầu vào; sử dụng các loại chất kết dính hiệu quả cũng như xác định và bổ sung các thành phần như các acid amine thiết yếu.

RAS được chọn lựa để thiết kế là hệ thống có khả năng tái sử dụng nước hiệu quả, có lợi thế về chi phí. Hệ thống bao gồm các bể và các thiết bị phụ trợ. Nhóm các bể gồm có bể nuôi tôm, bể thu gom chất thải rắn, bể lọc sinh học, bể chứa nước sau xử lý. Nước từ bể nuôi tôm được thải ra, tự chảy vào bể lắng, tại đây chất thải dạng hạt sẽ được giữ lại. Tiếp theo đó, phần nước trong sẽ tự chảy qua bể lọc sinh học. Nước từ bể lọc sinh học được các vi sinh vật xử lý các hợp chất ni tơ chuyển NH3 độc hại sang dạng NO2-N sau đó NO2-N độc hại được chuyển thành NO3 -N ít độc. Tiếp đó, nước từ bể lọc sinh học chảy qua bể chứa, làm mát, sục khí ô xy trước khi được bơm qua hệ thống UV diệt khuẩn để trở về bể nuôi tôm. Thiết bị khác gồm có máy sục khí, máy ổn nhiệt độ nước. Ngoài ra để thực hiện quá trình nuôi cần có các thiết bị đo pH, độ mặn, nhiệt độ đo độ ô xy hóa khử ORP bằng thiết bị cầm tay và máy đo các thông số môi trường nước. Dùng máy Hanna để đo TAN, NO2-N, NO3-N, Phosphate. Kit so màu thử nhanh TAN và độ kiềm.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Khi được bổ sung vào thức ăn công nghiệp dạng viên khô, Mannan olygosaccharide (Biomos®) ở mức 0,4% (4 g/kg thức ăn) giúp cải thiện tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm hùm bông trong khi đó bổ sung taurine ở mức 4 g/kg thức ăn chưa cho thấy hiệu quả rõ ràng.

Đã thiết kế được bể lọc sinh học vật liệu xi măng gồm có 3 ngăn dùng các hạt lọc là hạt san hô cành và viên đá cuội. Bể lọc sinh học hoạt động khá hiệu quả, tỉ lệ thay nước không quá 50% trong tháng, đã duy trì các yếu tố môi trường như sau: TAN < 0,8 mg/l; NO2 -N< 0,08 mg/l; pH = 7,5-8,0. Các yếu tố khác có thể kiểm soát như nhiệt độ 26-30oC; độ mặn 30-37‰; DO > 4,6 mg/l; NO3 < 50 mg/l; Tổng ni tơ hữu cơ < 8 mg/l; Can xi = 320-360 mg/l.

Nuôi tôm hùm bông thương phẩm trong hệ thống RAS ở mật độ 8-10 con/m2 bằng thức ăn công nghiệp dạng viên đạt năng suất 5,45 -6,73 kg tôm/m2; tăng trưởng và tỉ lệ sống không sai khác với tôm nuôi ở mật độ 6 con/m2.

Có thể dùng kỹ thuật PCR phát hiện được vi khuẩn Vibrio alginolitycus gây đỏ thân và nấm Fusarium solani gây đen mang nhưng không phát hiện được RLB gây bệnh sữa trong mẫu chứa phân tôm hùm và nước thu từ bể nuôi tôm hùm.

Sản phẩm được chiết ra từ củ tỏi (Allium sativum, L) và hạt cau (Areca catechu) có tiềm năng ngăn ngừa tác nhân RLB gây bệnh sữa ở tôm hùm khi tắm ở liều lượng 50 ppm trong thời gian 60 phút/lần/ngày x 2 ngày.

Nuôi tôm hùm bông cỡ 15,5 g/con ở mật độ 8 con/m2 trong hệ thống RAS dùng 100% thức ăn công nghiệp sau 18 tháng nuôi, tôm đạt khối lượng trung bình 0,68 kg/con; tỉ lệ sống 71,76%; năng suất 3,91 kg/m2; hệ số thức ăn FCR = 3,22. Tăng trưởng của tôm chậm hơn, tỉ lệ sống thấp hơn so với nuôi tôm trong lồng biển bằng thức ăn tươi. Nguyên nhân do chất lượng viên thức ăn công nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu của tôm hùm bông và chưa kiểm soát hiệu quả bệnh sữa, bạc vỏ, đen mang trong các tháng đầu nuôi thử nghiệm. Tắm tôm bằng các hợp chất kháng khuẩn và nước ô xy già đã khắc phục được dịch bệnh này.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17148/2019) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 1.024
Hôm nay 1.924
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.670
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!