Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 31/3/2022

Nghiên cứu giải pháp gây bồi, tạo bãi để trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ bờ biển, đê biển tại các bãi triều ngập sâu các tỉnh từ Tiền Giang đến Cà Mau
Khu vực các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc và nhiều lợi thế cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, những năm gần đây tình trạng sạt lở, xói mòn đất bờ biển diễn ra phổ rất phổ biến và có xu thế ngày càng gia tăng và nghiêm trọng hơn. Hiện tượng sạt lở với xu hướng ngày một tăng làm mất đất sản xuất, hư hỏng đường giao thông, sụt lún nhà dân và gây bất ổn cho đời sống của các hộ dân. Ngoài ra, sạt lở bờ còn làm bồi lắng lòng dẫn gây ảnh hưởng tới hoạt động giao thông đường thủy và việc tiêu thoát lũ vào mùa mưa.
Hiện trạng xói lở, bồi tụ ở các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long

Để giải quyết tình trạng sạt lở, các địa phương khu vực các tỉnh từ Tiền Giang đến Cà Mau đã đầu tư xây dựng một số công trình kè bê tông bảo vệ bờ để giải quyết tình trạng sạt lở cục bộ. Tuy nhiên, giải pháp bảo vệ bờ bằng công trình kè bê tông qua thực tiễn cho thấy một số hạn chế như có suất đầu tư rất lớn, khó có thể áp dụng trên quy mô lớn và không thân thiện với môi trường. Mặt khác, các công trình kè cứng bảo vệ bờ có nguy cơ không bền vững do xây dựng trên nền địa chất yếu, việc thi công xây dựng gặp nhiều khó khăn. Nhiều công trình kè cứng bảo vệ bờ sau khi xây dựng bị sụt lún, đổ vỡ và hư hỏng như kè Tân Hoa (Vĩnh Long), kè Phong Điền (Cần Thơ), kè Mỏ Cày (Bến Tre), kè sông Cửa Lớn (Cà Mau)... Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, các công trình như trồng rừng ngập mặn, hàng rào giảm sóng, giảm dòng chảy ven bờ,... đã phát huy được tác dụng chống sạt, xói lở. Tuy nhiên, những giải pháp này chưa có những nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, đặc biệt là trong việc phân chia lập địa khu vực bờ biển, lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa, chưa có những tổng kết và hướng dẫn trong việc ứng dụng các biện pháp sinh thái trong việc xử lý và phòng chống sạt lở,...

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu đến từ Viện Sinh thái và Bảo vệ môi trường do TS. Mai Cao Trí làm chủ nhiệm đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp gây bồi, tạo bãi để trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ bờ biển, đê biển tại các bãi triều ngập sâu các tỉnh từ Tiền Giang đến Cà Mau” trong thời gian từ 2016 - 2019 nhằm xây dựng được giải pháp kỹ thuật gây bồi, tạo bãi và trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ bờ biển, đê biển tại các bãi triều có cao trình bãi từ - 0,5 đến -1,0m tại tuyến cách đường bờ hiện trạng 150m (T150) ở các tỉnh từ Tiền Giang đến Cà Mau.

Sau bốn năm tích cực triển khai, đề tài đã đạt được các kết quả như sau:

1. Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy rừng ngập mặn tự nhiên ven biển từ Tiền Giang đến Cà mau đang tiếp tục suy thoái, một số khu vực không còn đai rừng ngập mặn, đê biển đối diện trực tiếp với biển.

Nguyên nhân suy giảm rừng ngập mặn là do tác động từ các hoạt động của con người và sự bất thường của các điều kiện tự nhiên. Trong đó tác động do hoạt động của con người như việc đắp đập ngăn sông làm thiếu hụt nghiêm trọng lượng phù sa từ các hệ thống sông đưa ra biển; việc xây dựng công trình ven biển và các hoạt động kinh tế khác ven biển đã tạo áp lực nặng nề tới đai rừng ngập mặn là các nguyên nhân quan trọng nhất. Các điều kiện tự nhiên chính gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan (sóng, bão, lụt và hạn hán), biến đổi khí hậu, mực nước ở biển dâng.

2. Xác định được các điều kiện để áp dụng giải pháp tường mềm và trồng cây ngập mặn ở khu vực nghiên cứu bao gồm: (1) Các khu vực đang trong quá trình bồi tụ, nhưng không xuất hiện cây tái sinh tự nhiên; (2) Các khu vực xói, bồi xen kẽ hoặc xói lở mức trung bình và có cao trình bãi lớn hơn -1,0m; (3) Đối với các khu vực xói lở mạnh và có cao trình bãi thấp (dưới -1,0m) giải pháp tường mềm chỉ có thể kết hợp sau giải pháp cứng (đê ngầm phá sóng, kè bê tông đá đổ, bê tông trụ rỗng…) nhằm gia tăng hiệu quả giảm sóng và gây bồi để trồng cây ngập mặn.

3. Xây dựng được giải pháp và công nghệ gây bồi, tạo bãi và giảm sóng phục vụ cho việc trồng đai cây ngập mặn. Giải pháp đã được áp dụng cho mô hình tại xã Vĩnh Trạch Đông, Bạc Liêu với quy mô 3,0ha

4. Xây dựng được giải pháp kỹ thuật gây bồi, tạo bãi và trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ bờ biển, đê biển tại các bãi triều có cao trình bãi từ -0,4 đến -1,0m tại tuyến cách đường bờ hiện trạng 150m

5. Xây dựng được bản hướng dẫn thiết kế bố trí không gian công trình gây bồi, tạo bãi cho cửa sông, ven biển đặc trưng.

6. Xây dựng được 01 mô hình công trình nâng bãi và trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển, bờ biển với quy mô 3,0ha.

7. Xây dựng được quy trình xây dựng công trình gây bồi, tạo bãi để trồng đai cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển, bờ biển và quy trình trồng cây ngập mặn trên bãi mới gây bồi.

Với các kết quả nêu trên, nhóm nghiên cứu kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, tiếp tục thử nghiệm mô hình thuộc khu vực biển Tây để có thể đánh giá toàn diện hơn về hiệu quả của công nghệ cũng như giao cho đơn vị chuyên môn tiếp nhận mô hình thử nghiệm và cấp kinh phí chăm sóc, bảo vệ cây ngập mặn để tiếp tục theo dõi, đánh giá.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17155/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 388
Hôm nay 2.775
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.788.521
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!