Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Năm, ngày 17/3/2022

Sử dụng khoáng sét tự nhiên biến tính bởi oxit kim loại để hạn chế quá trình lan truyền của các hoá chất bảo vệ thực vật từ đất mặt ra môi trường nước
Hoá chất bảo vệ thực vật là những hóa chất độc hại, bền vững, khó phân hủy trong môi trường, có thể xâm nhập vào nguồn nước mặt, sông ngòi, ao hồ và lan truyền vào các mạch nước ngầm, gây tổn hại cho các sinh vật thủy sinh, con người và hệ sinh thái.

Theo số liệu thống kê, khoảng 20.000 tấn thuốc trừ sâu thường được sử dụng hàng năm, trung bình tăng khoảng 4 -5 kg/ha/năm. Một số nghiên cứu vẫn cho thấy sự tồn tại của dư lượng một số các loại hoá chất bảo vệ thực vật đã bị cấm sử dụng trong đất, nước sông, nước ngầm và trầm tích sông. Với điều kiện chôn lấp không an toàn và không đúng quy cách như ở nhiều nơi hiện nay, các loại hóa chất bảo vệ thực vật này có thể bị phát tán ra môi trường nước, đi vào chuỗi thức ăn, gây tác hại tới sức khỏe cộng đồng. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng mức độ ô nhiễm thuốc trừ sâu, diệt cỏ tại các khu vực trồng cỏ phục vụ mục đích thể thao, giải trí (sân bóng đá, sân golf, công viên...) thậm chí còn cao hơn so với khu vực hoạt động sản xuất nông nghiệp. Để có bề mặt cỏ tốt phục vụ mục đích thể thao hay vui chơi giải trí đòi hỏi cỏ trồng tại đây phải có chất lượng cao, đồng nhất; đồng thời bắt buộc phải có sự cải tạo, bảo dưỡng thường xuyên. Chính vì vậy, tại những khu vực này, một lượng lớn thuốc trừ sâu, diệt cỏ được sử dụng, tạo ra những mối đe doạ không nhỏ tới môi trường xung quanh và hệ sinh thái. Chính vì vậy, việc xử lý, loại bỏ cũng như hạn chế sự lan truyền của các hợp chất độc hại này trong môi trường là nhiệm vụ được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm.

Trong những năm gần đây, vật liệu quang xúc tác được quan tâm nghiên cứu nhờ khả năng phân huỷ triệt để các hợp chất độc hại, bền vững với môi trường. Trên thế giới, rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả cao của xúc tác quang hóa trong quá trình phân hủy thuốc trừ sâu trong môi trường nước. Một số chất bán dẫn dạng nano đã được nghiên cứu sử dụng làm chất xúc tác quang như như TiO2, ZnO, CdS, Fe2O3,… Khả năng quang xúc tác phân hủy và quá trình chuyển hóa thuốc trừ sâu, diệt cỏ như atrazin, prometron, propectrin, bantazon, DDT, parathion, lindan...bằng TiO2 dạng huyền phù đạt hiệu quả tốt trong điều kiện chiếu sáng và sự có mặt của oxi. Quá trình quang xúc tác dị thể của TiO2 và quang Fenton cũng cho hiệu quả cao, với 90% thuốc trừ sâu được khoáng hóa. Việc sử dụng bentonit làm pha nền cho vật liệu quang xúc tác như ZnO, TiO2 nano vừa có thể tận dụng được khả năng lưu giữ tốt các tác nhân ô nhiễm cũng như tâm hoạt động xúc tác, từ đó giúp nâng cao hiệu quả xúc tác. Bentonit là khoáng sét sẵn có và rẻ tiền ở Việt Nam, có khả năng hấp phụ tốt các hợp chất hữu cơ có kích thước lớn, cồng kềnh. Thêm vào đó, bentonit là một loại khoáng sét tự nhiên, có sẵn trong đất, khi trộn vật liệu vào đất sẽ giảm được sự xáo trộn cấu trúc đất. Zhao và cộng sự (2007) đã nghiên cứu xử lý đất ô nhiễm bởi γ-hexachlorocyclohexane (γ-HCH) sử dụng vật liệu composit của TiO2 và montmorillonite. Kết quả cho thấy vật liệu chứa 30% TiO2 cho hiệu quả phân huỷ γ-HCH tốt nhất.

Nhằm chế tạo được vật liệu khoáng sét tự nhiên biến tính bởi oxit kim loại có khả năng hấp phụ - xúc tác phân huỷ hoá chất bảo vệ thực vật, ứng dụng để hạn chế quá trình lan truyền của các hợp chất này từ môi trường đất ra môi trường nước, nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên do TS. Nguyễn Minh Phương đứng đầu đã đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hạn chế quá trình lan truyền của các hoá chất bảo vệ thực vật từ đất mặt ra môi trường nước sử dụng khoáng sét tự nhiên biến tính bởi oxit kim loại”.

Trong nghiên cứu này, đề tài tiến hành tổng hợp vật liệu dạng nanocomposit của xúc tác oxit kim loại/sét tự nhiên (một thành phần của đất) với mong muốn tạo ra các vật liệu vừa có hoạt tính xúc tác-hấp phụ cao đối với thuốc trừ sâu, vừa thân thiện với môi trường. Vật liệu sau khi được tổng hợp sẽ được áp dụng thử nghiệm để hạn chế khả năng giải phóng thuốc trừ sâu diazinon từ đất mặt ra môi trường nước, đồng thời thúc đẩy tốc độ của quá trình phân huỷ hợp chất này trong môi trường đất mặt. Diazinon được tổng hợp vào đầu những năm 1950 bởi Ciba- Geigy. Diazinon là một hợp chất thuốc bảo vệ thực vật gốc lân hữu cơ, có tên hóa học là O,O-Diethyl O-[4-methyl-6-(propan-2- yl)pyrimidin-2-yl] phosphorothioate và công thức phân tử là C12H21N2O3PS.

Diazinon dạng tinh thể không màu và dạng lỏng có màu vàng nâu, ít hòa tan trong nước, khoảng 40-60mg/L phụ thuộc vào nhiệt độ; hòa tan tốt trong dung môi hữu cơ như cồn, benzene, toluene, hexan, cyclohexan, dichlomethan, acetone và tan hoàn toàn trong dầu hỏa. Diazinon là nhóm thuốc trừ sâu cơ photpho được sử dụng tương đối phổ biến trong nông nghiệp. Diazinon được EPA xếp vào nhóm chất độc nhóm II. Diazinon gây độc cho sinh vật qua cơ chế làm giảm hoạt tính enzym Acetylcholinesteraza (AChE); enzym có chức năng thủy phân Acetylcholine thành Choline và acid acetic. Khi AChE bị ức chế bởi diazinon thì acetylcholine không được thủy phân nên sẽ tích tụ ở các đầu nối thần kinh, dẫn đến nhiều ảnh hưởng khác nhau.

Vật liệu Bentonit đã được biến tính bằng cách trao đổi với ion Fe3+ (Bent-Fe) nhằm làm tăng khoảng cách của các lớp Bentonit. Vật liệu Bent-Fe có dung lượng hấp phụ cực đại cao hơn 2 lần so với của Bentonit ban đầu (Bent). Sau đó vật liệu Bent-Fe được sử dụng để tổng hợp vật liệu nanocomposit Fe-TiO2/Bent-Fe, N-ZnO/Bent-Fe.

Các vật liệu thu được có kích thước nano và có khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng khả kiến. Các hạt xúc tác ZnO và TiO2 được phân tán đều lên các lớp Bentonit. Khả năng hấp phụ - xúc tác phân huỷ của các vật liệu đối với diazinon đã được khả sát. Tại điều kiện tối ưu, dung lượng hấp phụ diazinon cực đại của Fe- TiO2/Bent-Fe và N-ZnO/Bent-Fe tương ứng là 27,03 và 24,89 mg/g. Hiệu quả phân huỷ dung dịch diazinon của vật liệu Fe-TiO2/BentFe và N-ZnO/Bent-Fe tương ứng là 80,6 và 87,1% sau 6 giờ chiếu sáng bởi đèn compact.

Khả năng hấp phụ diazinon bởi đất trộn với vật liệu nanocomposit N-ZnO/Bent-Fe theo các tỉ lệ khác nhau đã được khảo sát. Kết quả hệ số hấp phụ K tính từ phương trình Freundlich cho thấy dung lượng hấp phụ diazinon của đất có bổ sung N-ZnO/Bent-Fe tăng lên đáng kể so với đất tự nhiên. Phần trăm diazinon giải phóng ra từ lớp đất mặt đều có xu hướng giảm đi khi tăng hàm lượng vật liệu nanocomposit trộn trong đất.

Mặt khác, lượng mưa cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn tới sự giải phóng của diazinon ra khỏi lớp đất mặt. Sự có mặt của vật liệu nanocomposit N-ZnO/BentFe cùng làm tăng đáng kể khả năng phân huỷ diazinon trong lớp đất mặt (tăng khoảng 6 lần với tỉ lệ N-ZnO/Bent-Fe 2 %).

Vật liệu cũng thể hiện hoạt tính xúc tác phân huỷ diazinon trong lớp đất mặt tốt hơn ở điều kiện ánh sáng tự nhiên, hiệu suất phân huỷ diazinon đạt 75,6% trong 5 ngày với hàm lượng vật liệu sử dụng là 2%. Kết quả chỉ ra rằng vật liệu có khả năng hạn chế sự rửa trôi diazinon từ đất ra nước cũng như thúc đẩy quá trình phân huỷ diazinon trong môi trường đất mặt.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17017/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 1.031
Hôm nay 2.004
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.750
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!