Chủ Nhật ngày 26/6/2022 Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5: "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Đẩy nhanh quá trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội" Cấu trúc Cổng Đăng nhập
Tin tức - Sự kiện: Kết quả nghiên cứu, triển khai
Cập nhật: Thứ Tư, ngày 16/3/2022

Nghiên cứu sản xuất men tạo hiệu ứng "hạt đường" sử dụng trong sản xuất gạch ốp, lát
Gạch ốp lát là vật liệu dùng cho xây dựng được hình thành, phát triển và phổ biến lâu đời trên thế giới. Từ những công trình cổ xưa cho đến các công trình hiện đại như các trung tâm thương mại, nhà ở... đều sử dụng vật liệu này. Có thể nói sự xuất hiện của các loại gạch ốp lát là một trong những phát minh vĩ đại của thế giới trong ngành vật liệu xây dựng.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bậc trong mọi lĩnh vực trong đó có cả ngành sản xuất gạch ốp lát. Để tăng tính cạnh tranh, song song với việc cải tiến công nghệ nhằm nâng cao chất lượng thì sản phẩm gạch ốp lát phải tăng tính thẩm mỹ để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng. Sản phẩm gạch ốp lát đa phần được phủ lớp men trang trí, lớp men này làm tăng tính thẩm mỹ, giúp sản phẩm chống bụi bẩn và có tác dụng làm tăng một số tính chất kỹ thuật cho sản phẩm như: độ cứng, độ bóng, độ chịu mài mòn, độ bền cơ…

Gần đây dòng sản phẩm gạch mang hiệu ứng “hạt đường” được ưa chuộng vì tạo hiệu ứng trang trí độc đáo đem lại giá trị thẩm mỹ cao. Gạch này được phủ một lớp men đặc biệt tạo trên bề mặt gạch các hạt nhỏ li ti trong suốt, khi có nguồn sáng chiếu vào gây ra hiện tượng khúc xạ làm bề mặt gạch trở lên óng ánh đẹp mắt giống như được rải một lớp hạt đường. Mặt khác, cũng nhờ các hạt li ti này mà bề mặt gạch có độ nhám, có tác dụng chống trơn trượt, gạch có độ cứng và độ bền mài mòn cao. Hiện nay, các công ty sản xuất gạch ốp lát sử dụng men hạt đường đều nhập từ các hãng nước ngoài: Trung Quốc, Ý, Mỹ… với giá thành cao. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh Công nghiệp do ThS. Mai Văn Dương đứng đầu đã đề xuất với Bộ Công Thương đăng ký thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sản xuất men tạo hiệu ứng ‘hạt đường’ sử dụng trong sản xuất gạch ốp lát” với mong muốn tạo ra được dòng men hạt đường thay thế sản phẩm nhập ngoại đáp ứng nhu cầu thực tế tại các nhà máy sản xuất gạch ốp lát trong nước.

Sau một năm làm việc tích cực nhóm thực hiện đề tài đã hoàn thành mục tiêu đặt ra và hoàn thành các nội dung nghiên cứu theo đề cương đăng kí của đề tài, cụ thể là:

1. Đã khảo sát, lựa chọn được nguyên liệu sản xuất frit men hạt đường: Các nguyên liệu đã chọn đều là các nguyên liệu có khả năng nấu chảy tốt ở nhiệt độ đã định. Nguyên liệu có thành phần hóa ổn định, hàm lượng tạp chất thấp. Cỡ hạt nguyên liệu mịn và ổn định, đảm bảo thuận tiện cho việc phối trộn 3 nguyên liệu và nguồn cung cấp ổn định.

2. Thiết lập được đơn phối liệu frit hạt đường và quy trình tạo frit.

Các đơn phối liệu trên đều nấu ở nhiệt độ cao 1400 ÷ 1500oC, có độ đồng nhất tốt ở điều kiện nấu. Tuy nhiên, theo ghi nhận của nhóm thực hiện đề tài trong quá trình nấu: đơn SG04 và SG05 có độ nhớt nóng chảy thấp hơn, nhiệt độ nấu cũng thấp hơn so với đơn SG01, SG02 và SG03. Đơn SG01 và SG02 có nhiệt độ nấu cao hơn và độ nhớt nóng chảy cao hơn nhưng vẫn đảm bảo chảy loãng và rót hết hoàn toàn với điều kiện nấu nhóm thực hiện đề tài đã nghiên cứu. Điều này có thể giải thích do sự có mặt của ZnO trong đơn SG04 và SG05 với vai trò làm chất trợ chảy làm cho bài phối liệu dễ nấu hơn. Đơn SG03 tuy lượng Boric cao hơn các đơn khác nhưng lại có hàm lượng kiềm và CaO thấp hơn và ZrO2 cao hơn nên nhiệt độ nấu vẫn cao.

Kết quả phân tích thành phần hóa cho thấy số liệu tính toán theo lý thuyết và số liệu thực tế xấp xỉ nhau vì trong quá trình tính toán lý thuyết có xem xét đến độ ẩm các nguyên liệu, sự hao hụt thành phần do bay hơi trong quá trình nấu.

3. Xây dựng được đơn men với thành phần hạt và dung môi thích hợp.

Men hạt đường được tạo thành từ sự pha trộn giữa frit và dung môi theo một tỉ lệ thích hợp. Dung môi sử dụng trong nghiên cứu của đề tài là dung môi dành cho men hạt đường của hãng Ceri có thành phần cơ bản là keo hữu cơ tạo màng, chất phân cực gốc glyceron, CMC, STPP. Sau khi nghiền hạt frit và phân chia theo 3 dải hạt. Tiến hành phối trộn các dải hạt này theo tỉ lệ ứng với lượng dung môi thích hợp để đạt độ nhớt 30-32s, tỷ trọng 1.1. Đề tài sử dụng đơn SG03 trong nghiên cứu về thành phần hạt và tỉ lệ frit/dung môi. Thiết lập 3 bài men với các tỉ lệ thành phần hạt khác nhau và nghiên cứu tìm ra tỉ lệ frit: dung môi thích hợp.

Các bài phối liệu trên được nhóm đề tài kéo line trên xương gạch mộc song song với mẫu men đối chứng và nung trong lò thanh lăn chu kì nung 68 phút, nhiệt độ max 1182/1184oC đang sản xuất tại công ty TNHH Thạch Bàn.

Kết quả nghiên cứu tỉ lệ frit và dung môi cho thấy với tỉ lệ frit: dung môi là 18:82 và tỉ lệ các cỡ hạt mịn: trung bình: thô = 15:60:25 thì cho bề mặt men có độ sần đồng đều và giống với mẫu đối chứng.

Lựa chọn đơn men cho sản xuất thử nghiệm: Theo nghiên cứu của nhóm thực hiện đề tài, đơn SG03 có nhiệt độ chảy phù hợp với nhiệt độ nung gạch lát, có độ cứng cao và độ chịu mài mòn cao thỏa mãn mục tiêu và yêu cầu của thuyết minh đề tài. Vì vậy nhóm thực hiện đề tài lựa chọn đơn SG03 để tiến hành chế thử và thử nghiệm tại nhà máy sản xuất.

4. Đề xuất được quy trình công nghệ sản xuất men tạo hiệu ứng hạt đường.

Các nguyên liệu được cân định lượng theo đơn phối liệu và nạp vào lò nấu frit. Phối liệu sau khi nạp vào lò khi đạt thời gian thì kéo sợi để kiểm tra độ đồng nhất, nếu chưa đạt thì tiếp tục nấu, nếu đạt thì chuyển sang hoạt hóa: xả trực tiếp thủy tinh trong nước, nước luôn được luân chuyển sao cho nhiệt độ nước vào và nước ra chênh nhau 50 ÷ 70oC thì quá trình hoạt hóa diễn ra tốt. Frit sau khi nấu được sấy khô và nạp vào máy nghiền khô. Thời gian nghiền trong máy nghiền bi là 1 giờ, sau khi ra khỏi máy nghiền, frit qua sàng rung phân theo 3 cấp hạt: d< 106μm, 106 < d < 212μm và 212 < d < 500μm. Các hạt thô lớn hơn 500μm được hồi lưu về máy nghiền để đạt cỡ hạt mong muốn. Sau khi phân cấp hạt thành ba dải cỡ hạt thì cân định lượng từng cấp hạt theo tỉ lệ hạt mịn: trung bình: hạt thô là 15:60:25 sau đó trộn đều bằng máy trộn và đóng bao, lưu kho. Khi sử dụng tại nhà máy frit được trộn đều với dung môi theo tỉ lệ frit: dung môi = 18:82 và tráng lên bề mặt gạch.

5. Chế thử được 20kg frit men hạt đường đạt tiêu chuẩn dùng cho gạch lát và thử nghiệm thành công tại nhà máy.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 17013/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
https://vista.gov.vn/
Tin, bài cùng lĩnh vực
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo thiết bị thử mỏi cáp bán tự động (22/6/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình thí nghiệm ảo PLC Mishubishi phục vụ công tác đào tạo (20/6/2022)
Nghiên cứu tác dụng kháng vi khuẩn Streptococcus mutans và độc tính của phân đoạn chiết lá sim (17/6/2022)
Đánh giá thực trạng và tiềm năng du lịch xanh tại Việt Nam (17/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và xây dựng phần mềm phân tích dữ liệu để hỗ trợ quyết định trong thương mại điện tử (17/6/2022)
Nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm nano thảo mộc phòng bệnh thán thư trên cây vải (17/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (16/6/2022)
Ứng dụng giải pháp PACS-Cloud phục vụ kết nối dữ liệu giữa các bệnh viện (15/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất dịch vải cô đặc và chất thơm từ nguyên liệu vải Việt Nam bằng các quá trình màng (15/6/2022)
Nghiên cứu dự báo rủi ro dự án BOT công trình giao thông ở Việt Nam bằng phương pháp mạng Nơ ron nhân tạo (Artifical Neural Network – ANN) (15/6/2022)
Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên nước biển sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh mắt, xoang, miệng (15/6/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị phục vụ đào tạo về IoT (14/6/2022)
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất bia gừng lên men (13/6/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây ngô (13/6/2022)
Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước nhiễm phèn phục vụ sinh hoạt cho các vùng bị tác động của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại tỉnh Bình Thuận (13/6/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng ngô trên đất lúa chuyển đổi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (13/6/2022)
Nghiên cứu tác động bảo vệ thận in vitro và in vivo của Sâm Việt Nam và thành phần hoạt tính (09/6/2022)
Nghiên cứu công nghệ luyện và đúc thép mangan cao từ sắt xốp để chế tạo búa nghiền quặng sắt và sắt xốp (09/6/2022)
Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao khô bán thành phẩm và thuốc Phong tê thấp Bà Giằng (08/6/2022)
Nghiên cứu sản xuất pyruvate từ vi khuẩn Halomonas với nguồn carbon từ rong biển Ulva của Việt Nam (06/6/2022)
Xây dựng bộ sưu tập vi sinh vật biển có tiềm năng cho các hoạt chất sinh học (06/6/2022)
Sản xuất thử giống ngô nếp lai HUA601 tại các tỉnh phía Bắc (06/6/2022)
Sử dụng tảo hạt hoạt tính trong xử lý nước thải (01/6/2022)
Ứng dụng công nghệ robot để hỗ trợ phục hồi chức năng cho khớp cổ tay (30/5/2022)
Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật phát triển giống hoa lay ơn và hoa lan hồ điệp (27/5/2022)
Quá trình hình thành sao lùn nâu và các đặc tính cơ bản của đĩa trẻ xung quanh các sao lùn nâu (26/5/2022)
Phân lập chủng vi khuẩn có khả năng khử mặn cho nước ruộng (24/5/2022)
Phòng trị bệnh liên cầu khuẩn cho cá rô phi bằng thảo dược (24/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống tự động giám sát trạm quạt thông gió chính trong khai thác hầm lò (24/5/2022)
Nghiên cứu công nghệ sản xuất Prodigiosin từ vi khuẩn tái tổ hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm (19/5/2022)
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát tủ tụ bù hạ thế từ trung tâm (19/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất tấm nhựa từ khẩu trang y tế đã qua sử dụng (19/5/2022)
Nghiên cứu, xây dựng quy trình kiểm tra không phá hủy (NDT) ứng dụng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo an toàn cho thiết bị chịu áp lực ở Việt Nam (16/5/2022)
Khai thác và phát triển nguồn gen vi khuẩn và nấm men nhằm tạo chế phẩm probiotic (16/5/2022)
Nghiên cứu vật liệu biến hóa trên cơ sở tinh thể quang tử (10/5/2022)
Nghiên cứu chế độ ăn đạt hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi cá Tra thương phẩm (10/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất peptide từ da ếch (04/5/2022)
Sản xuất giống cá rô phi đỏ (diêu hồng) chọn giống (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (04/5/2022)
Nghiên cứu sản xuất sinh khối nấm thượng hoàng để sản xuất thực phẩm chức năng (29/4/2022)
Nghiên cứu ứng dụng Enzyme trong sản xuất Collagen (28/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn để xử lý nước thải ao nuôi cá tra (27/4/2022)
Nghiên cứu chế tạo vật liệu tổ hợp nano rGO/SMO nhằm ứng dụng cho cảm biến khí (27/4/2022)
Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh biến hậu; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (27/4/2022)
Nghiên cứu thức uống hỗ trợ giải rượu bia từ cây nhàu (25/4/2022)
Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vật nuôi (21/4/2022)
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển tự động cho thiết bị chiết xuất cao dược liệu (21/4/2022)
Nghiên cứu, chế tạo thiết bị sấy vật liệu rời có độ kết dính cao kiểu tầng sôi xung khí liên tục (20/4/2022)
Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của loài Camellia sasanqua (20/4/2022)
Nghiên cứu tính toán lũ vượt thiết kế theo QCVN 04-05 và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn công trình và giảm ngập lụt hạ lưu sông Ba (20/4/2022)
Tải ứng dụng Khai báo y tế toàn dân NCOV
Ứng dụng trên IOS Ứng dụng trên Android
Thông báo lịch tiếp công dân 6 tháng cuối năm của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Thông báo về việc tổ chức Cuộc thi: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Trị năm 2022

Hướng dẫn quy trình hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2022

Về việc phối hợp thực hiện Đề án: "Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị"

Thông báo về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị

Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị
Thống kê truy cập
Số người online 1.023
Hôm nay 1.928
Hôm qua 5.081
Tất cả 5.787.674
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG TRỊ
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Chịu trách nhiệm: Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Địa chỉ: 204 Hùng Vương, Đông Hà; ĐT: 0233.3550 382.
Thiết kế và xây dựng: Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng và Thông tin KH&CN. Ghi rõ nguồn Dostquangtri khi sử dụng thông tin từ website này!